
Vĩnh Xuân quyền, hệ phái Ngô Sĩ Quý
- Hệ thống cơ bản (Thủ Đầu Quyền)
- Hệ thống Ngũ hình quyền
- Hệ thống 108, Mộc nhân, binh khí
- Thi thăng cấp 2 kỳ mỗi năm, chấm theo thang điểm rõ ràng
Làm chủ Cuộc sống
Võ · Khí · Dưỡng: giải pháp sức khỏe chủ động cho đơn vị, cá nhân và gia đình. Rèn phản xạ, sửa tư thế, ngủ sâu hơn, với lộ trình rõ ràng và người thầy đúng chuẩn.
Ngồi máy tính cả ngày, cơ bó cứng, tư thế lệch dần mà không hay biết.
Áp lực công việc kéo dài, đầu óc không được nghỉ, sáng dậy vẫn mệt.
Thiếu phản xạ tự vệ cơ bản, ngại va chạm, kém tự tin nơi đông người.
Gym, chạy bộ, yoga… vài tuần là nhàm, vì không thấy mình tiến bộ.
Người bận rộn không thiếu nơi để tập. Họ thiếu một lộ trình rõ ràng, một người thầy đúng chuẩn và một cộng đồng giữ mình tập đều.
Võ đường thuộc hệ phái Vĩnh Xuân Ngô Sĩ Quý, tiền thân là CLB Vĩnh Xuân EZCARE do thầy Nguyễn Thành Trung thành lập năm 2010. Thầy tập Vĩnh Xuân từ năm 1993 tại CLB Vĩnh Xuân trường Nguyễn Văn Trỗi, cái nôi của nhiều võ đường trong hệ phái.
Hôm nay võ đường kết hợp Vĩnh Xuân, Khí công và Dinh dưỡng thành một lộ trình rèn luyện sức khỏe chủ động cho đơn vị, cá nhân và gia đình, tại 3 cơ sở ở Hà Nội.
Hệ phái Ngô Sĩ Quý. Rèn phản xạ, giữ trung tuyến, tự vệ bằng kỹ thuật chứ không dựa vào cơ bắp.
Điều hòa hơi thở, tháo lỏng cột sống, tĩnh tâm, hỗ trợ giảm căng thẳng và ngủ sâu hơn.
Kiến thức ăn uống đúng từ cộng đồng EZCARE, để công sức tập luyện cho kết quả bền vững.
Điểm khác biệt: một lộ trình trọn vẹn Võ · Khí · Dưỡng để chăm sóc sức khỏe toàn diện cho đơn vị, cá nhân và gia đình.
Phả hệ rõ ràng, giáo trình được truyền lại có hệ thống. Võ đường đồng hành cùng Festival Vĩnh Xuân Về Nguồn được tổ chức hằng năm.
Giáo trình chuẩn hóa: 10 bài cơ bản, Hệ thống 108, Mộc nhân. Thi thăng cấp chấm theo thang điểm rõ ràng.



Trực tiếp đứng lớp Vĩnh Xuân và Khí công tại võ đường, đồng hành cùng cộng đồng chăm sóc sức khỏe chủ động EZCARE.
Người học không trả tiền cho vài bài quyền. Họ trả tiền cho những gì võ thuật giúp họ trở thành.
Mỗi buổi đều có HLV đứng lớp, sửa tay từng người. Tại Cơ sở 1 (Vov) bạn có thể học riêng Vĩnh Xuân, riêng Khí công, hoặc cả hai; Cơ sở 2 và 3 có lớp buổi tối.


Mỗi đối tượng một nhu cầu, một cách bắt đầu. Võ đường tư vấn lớp phù hợp sau buổi tập thử miễn phí.
Doanh nghiệp, cơ quan, trường học, khu dân cư
Chăm sóc sức khỏe cho tập thể, giảm căng thẳng, tăng gắn kết.
Người đi làm, người trung niên và cao tuổi
Bó cơ, gù lưng, stress, mất ngủ, xương khớp, muốn biết tự vệ.
Cha mẹ và con từ 8 tuổi, ông bà cùng tập
Con ít vận động, mải màn hình, thiếu kỷ luật; cả nhà muốn có thói quen tập chung.
60 phút: sàng lọc sức khỏe, chụp tư thế đầu vào, tập thử cùng HLV.
Nhận áo tập, Thẻ Tiến Độ cá nhân, vào nhóm lớp để được nhắc lịch.
HLV sửa tay từng buổi; hỏi thăm ngày 1, 7, 14, 30 để hình thành thói quen.
10 buổi chuyên cần, 1 tháng, 6 tháng; thi thăng cấp 2 kỳ mỗi năm.
Hệ thống 108, Mộc nhân, binh khí, kèm riêng, hoặc trở thành trợ giảng.
Lớp sáng sớm và buổi tối, để bạn chọn nơi gần nhà hoặc gần chỗ làm.
TDP 1 Mễ Trì (khu VOV), phố Lương Thế Vinh, phường Đại Mỗ, Hà Nội
Liên hệ: 0913 499 862
Xem bản đồ → Đăng ký tập thử tại cơ sở nàyKim Hoa, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội
Liên hệ: 0967 275 999
Xem bản đồ → Đăng ký tập thử tại cơ sở nàyGolden An Khánh, Khu đô thị Nam An Khánh, Hà Nội
Liên hệ: 0915 907 986
Xem bản đồ → Đăng ký tập thử tại cơ sở nàyMỗi cơ sở có lịch lớp và chương trình riêng. Vui lòng liên hệ số điện thoại của cơ sở gần bạn để được tư vấn và xếp buổi tập thử miễn phí.
Chuyên đề về Vĩnh Xuân, tư liệu hệ phái và tin các sự kiện của võ đường.
Sáng Chủ nhật 18.10.2026, các võ đường hệ phái Vĩnh Xuân Ngô Sĩ Quý hội tụ tại Nhà tưởng niệm Thầy Ngô Sĩ Quý để dâng hương, biểu diễn và tham luận chuyên đề 108.
Festival Vĩnh Xuân Về Nguồn 2026 diễn ra sáng Chủ nhật 18.10.2026 tại Nhà tưởng niệm Thầy Ngô Sĩ Quý (xã Cổ Đông, Sơn Tây, Hà Nội), do Vĩnh Xuân Ngô Gia Hoàng Pháp tổ chức. Đây là chương trình thường niên dành cho thành viên các võ đường trực thuộc, cùng gia đình và bạn bè yêu thích Vĩnh Xuân. Chủ đề năm nay: Thảo luận về Hệ thống 108.
Tham dự có các võ đường Vĩnh Xuân trường Nguyễn Văn Trỗi, Vĩnh Xuân EZCARE, Vĩnh Xuân Ngô Thị Pháp, Vĩnh Xuân Hoàn Kiếm, Vĩnh Xuân NGHP Europe và nhóm Vĩnh Xuân NGHP Lưu Thủy.
Trong diễn văn khai mạc, Ban tổ chức nhắc lại ba mục tiêu xuyên suốt: Kết nối các chi phái, hệ phái trong nước và bạn bè quốc tế; Kế thừa bằng việc trình diễn, chuẩn hóa và bảo tồn các bài quyền từ cơ bản đến nâng cao; Phát triển qua nghiên cứu võ học và đổi mới phương pháp huấn luyện. Tinh thần được kêu gọi lan tỏa: Cương nhu tương tế, Khiêm tốn học hỏi, Thượng võ tôn sư.
Học viên Vĩnh Xuân EZCARE mang đến bốn tiết mục: biểu diễn chào mừng Hạc quyền & Cơ bản công của HLV cùng tập thể học viên nhí, Ngũ hình tổng hợp, Báo quyền, và tiết mục Thăng bằng, Tay dính, Ly thủ. Võ đường cũng góp phần tham luận chuyên đề 108, được đăng lại trong loạt bài trên trang này.






Khi nhu cầu đánh nhau thực tế ngày càng ít, 108 còn giá trị gì? Năm năng lực mà hệ thống này rèn cho người tập, và vì sao võ thuật không chết mà chuyển hóa.
Bài tham luận chuẩn bị cho Festival Về Nguồn 2026, trả lời câu hỏi: khi xã hội hiện đại khiến nhu cầu ứng dụng kỹ thuật chiến đấu ngày càng giảm, giá trị cốt lõi nào của 108, và của võ thuật nói chung, cần được giữ gìn?
Có một định nghĩa về võ thuật mà người ta thường bỏ quên: võ là sinh tồn. Không phải sinh tồn theo nghĩa hẹp là sống sót qua một trận đánh, mà là khả năng tồn tại và phát triển trong môi trường sống.
Ngày xưa, môi trường sống là tự nhiên hoang dã, là chiến tranh, là hiểm nguy thể xác. Sinh tồn khi ấy là đấm đá, là tự vệ, là chiến đấu. Ngày nay không còn thú dữ, không còn kẻ thù cầm gươm, nhưng con người vẫn phải sinh tồn trước áp lực công việc, sự cô đơn, khủng hoảng tinh thần và sự kiệt quệ của đời sống hiện đại. Sinh tồn ngày nay là hòa: hòa với chính mình, với người khác, với cuộc đời.
Hệ thống 108 không phải là một bộ chiêu thức để đánh nhau. Nó đúc kết toàn bộ nguyên lý vận động của Vĩnh Xuân vào một khuôn giao tiếp chiến đấu. Để giá trị ấy hình thành, một số nguyên lý kỹ thuật cốt lõi vẫn phải được giữ nguyên vẹn: cấu trúc thân và tay, nguyên lý trung lộ, khả năng hóa lực và phát lực trong cùng một chuyển động, cảm giác dính và hòa ở khoảng cách ngắn. Khi chất liệu kỹ thuật được giữ vững, 108 rèn cho con người năm năng lực:
Khi xã hội không còn cần những trận đấu sinh tử, võ thuật trở về bản chất của mình: một hệ thống rèn luyện sinh tồn toàn diện. Chuyển hóa không có nghĩa là làm loãng phần chiến đấu của 108, mà để phần chiến đấu ấy phục vụ mục tiêu rèn luyện rộng hơn, vừa giữ được chất kỹ thuật, vừa mở ra giá trị trong đời sống.
“Đạt Vĩnh Xuân là giơ một bàn tay cũng đầy đủ nội dung.”Cố võ sư Ngô Sĩ Quý
Một bàn tay giơ ra, không phải để đánh ai, mà để chạm vào chính mình, chạm vào người khác, chạm vào cuộc đời.
108 vừa là bài quyền cuối trong Bát Môn, vừa là một ma trận tổ hợp sinh ra hàng chục “bài quyền” khác nhau. Nó kế thừa gì từ Thủ đầu quyền, Khí công quyền và Ngũ hình?
Gọi 108 là “bài quyền” thì không sai, nhưng chưa đủ. Về hình thức, đó là bài quyền cuối cùng trong Bát Môn. Về bản chất, đó là hệ thống vận động tổng thể của Vĩnh Xuân Ngô Sĩ Quý. Có thể xem 108 là từ điển sống của Vĩnh Xuân: mỗi động tác là một từ, người tập qua thời gian học cách ghép những từ ấy thành câu, thành đoạn, thành bài nói tự nhiên.
Cách triển khai theo tổ hợp là phương pháp luyện tập đã có từ trước. Giống như xây nhà: có gạch, cát, xi măng; cát hợp xi măng thành vữa; vữa với gạch thành tường; cuối cùng thành ngôi nhà. Các nội dung của 108 được tách ra để luyện cho thuần, rồi dần ghép lại.
Chỉ ghép đôi 5 nội dung hình với 8 nội dung ý đã có 40 bài khác nhau, chưa kể chập dần nhiều nội dung theo tầng như kim tự tháp. Đến tầng cao nhất, khi mọi nội dung đã ghép làm một, người tập không còn “tập bài” nữa. Họ chỉ vận động, và mọi vận động đều chứa đủ 108.
108 không cộng gộp mà hòa quyện, đến mức không còn phân biệt động tác nào của bài nào. Nó đưa các nguyên lý ấy vào khuôn giao tiếp chiến đấu, nơi có đối phương, áp lực và biến động: từ tự thân sang tương tác, từ hình sang dụng, từ biết sang hành. Ba nguyên tắc chiến đấu, gọi là tam tiêu, đến 108 mới hiện rõ và thành đặc trưng:
Khi đã nhuần nhuyễn, 108 không còn là một bài để diễn, mà trở thành ngôn ngữ vận động sống.
Giải cấu trúc 108 thành từng đòn lẻ giết chết linh hồn của bài. Các hình trong 108 thực chất là biến tấu quanh một giai điệu chính: trung lộ, tiêu đả, bàn giao tay.
Nhiều nơi dạy 108 bằng cách bẻ bài quyền thành từng động tác rồi thuyết minh: đây là đòn A, đây là cách chặn B. Cách dạy này không sai về kỹ thuật, nhưng biến một hệ thống vận động thành một danh mục động tác. Người tập thuộc danh mục mà không hiểu sợi dây nối chúng, như đọc bài thơ từng chữ cái mà không hiểu nghĩa cả câu.
Trung lộ là nền tảng không gian: giữ trục của mình, chiếm trục của đối phương. Tiêu đả là nguyên lý xử lý lực: khi lực đến, nó được tiêu ngay trong khoảnh khắc ấy và đòn phản cũng phát ra ngay trong khoảnh khắc ấy, không tuần tự, không độ trễ. Bàn giao tay là kỹ thuật thực hành: kiểm soát và khống chế kiều thủ qua các vòng tay. Không có động tác nào chỉ chứa một trong ba.
Như người nhạc công ngẫu hứng có một giai điệu chính trong đầu và biến tấu thành vô số phiên bản, mỗi động tác của 108 là một biến tấu của tam tiêu: khi qua trung lộ trực tiếp, khi qua tiêu đả đồng thời, khi qua các vòng bàn giao tay, khi qua các góc độ khác nhau của cùng một nguyên lý.
“Đạt Vĩnh Xuân là giơ một bàn tay cũng đầy đủ nội dung.”Cố võ sư Ngô Sĩ Quý
108 là hệ thống, nên người tập rất dễ lạc. Bản đồ ba tầng: cấu trúc và thành phần, nguyên lý vận hành, lộ trình năm giai đoạn từ học hình đến ứng tác tự nhiên.
Có cần một bản đồ học tập cho 108 không? Có. Bản đồ giúp người tập biết mình đang ở đâu, đang thiếu gì và cần đi tiếp thế nào.
Trung chính duy trì Gian giá tốt; có Gian giá mới có Tùng tịnh; có Tùng tịnh mới sinh Trầm; có Trầm mới sinh Phù; có Phù mới sinh Khinh; có Khinh mới sinh Linh. Đây là chuỗi chồng tầng: khi đạt Linh, các tầng trước vẫn đồng thời tồn tại. Hơi thở khuếch đại cả chuỗi, nhưng phải tự nhiên, không cưỡng. Lục hợp (tay–chân, khuỷu–gối, vai–hông; tâm–ý, ý–khí, khí–lực) vận hành đồng thời.
Cần phân biệt: Tùng (khớp mở, kình không mất) khác Giải (kình mất hết); Nhu khác Nhược; Cương (kình đàn hồi) khác Cương ngạnh (cơ bắp căng cứng).
Điều kiện xuyên suốt: thư giãn không gồng, đồng bộ, kết nối liền mạch, lực từ đất lên qua chân, eo, thân ra tay. Bản đồ là la bàn. Khi đã thuần thục, người tập quên bản đồ và chỉ còn vận động.
Vì sao lớp võ phong trào học phí thấp, thậm chí miễn phí, vẫn ít học viên? Vấn đề không nằm ở học phí mà ở giá trị người học cảm nhận được.
Mỗi khi nói về khó khăn của các lớp võ phong trào, ta thường nghe: người ta không còn thích học võ, kinh tế khó khăn, thanh niên chỉ mê điện thoại. Nhưng đó có phải nguyên nhân thật sự?
Nhiều võ đường chuyên nghiệp vẫn đông học viên dù học phí cao, giờ tập cố định và yêu cầu khắc nghiệt hơn. Trong khi đó, không ít lớp phong trào học phí rất thấp, có nơi miễn phí, mà vẫn thưa người. Rõ ràng vấn đề không nằm ở học phí, mà ở giá trị mà người học cảm nhận được.
Ngày nay có vô số lựa chọn: gym, yoga, chạy bộ, bơi, đạp xe, pickleball, khiêu vũ. Phần lớn người học không muốn trở thành võ sĩ. Họ muốn giảm căng thẳng sau giờ làm, giảm cân, tự vệ cơ bản, muốn con mình kỷ luật hơn, muốn một môi trường tích cực để rèn luyện. Họ đang tìm một giải pháp cho cuộc sống, chứ không đơn thuần là vài đòn thế hay mấy bài quyền.
Họ bán một lối sống, một cộng đồng, một môi trường truyền cảm hứng, một mục tiêu để chinh phục, cảm giác tiến bộ sau mỗi buổi tập. Nhiều lớp phong trào vẫn chỉ bán các bài quyền, các kỹ thuật và những buổi tập lặp lại. Đó là khoảng cách.
Người học không bỏ lớp vì học phí cao. Họ bỏ lớp vì không còn thấy lý do để tiếp tục.
Nếu lớp võ của bạn đóng cửa hôm nay, bao nhiêu học viên sẽ thấy tiếc? Bao nhiêu người sẽ nghĩ: tôi cần quay trở lại? Nếu câu trả lời còn ít, có lẽ vấn đề nằm ở cách chúng ta tổ chức, vận hành và tạo giá trị cho lớp học.
Người học không tìm đến một lớp võ chỉ để học vài đòn thế. Họ tìm một nơi giúp họ sống khỏe hơn, tự tin hơn, hạnh phúc hơn và trưởng thành hơn mỗi ngày.
Đây cũng là tinh thần mà Võ đường Vĩnh Xuân EZCARE xây dựng chương trình Võ · Khí · Dưỡng.
Ngày 25.01.2026, Võ đường Vĩnh Xuân EZCARE tổ chức kỳ thi thăng cấp đai đẳng khóa 5 cho HLV, trợ giáo và học viên trong hệ thống.
Ngày 25.01.2026, Võ đường Vĩnh Xuân EZCARE tổ chức Kỳ thi thăng cấp đai đẳng khóa 5. Chương trình dành cho các huấn luyện viên, trợ giáo và học viên trực thuộc hệ thống hoặc có liên kết với võ đường.
Thi thăng cấp là cột mốc trong lộ trình của mỗi học viên. Tại EZCARE, kỳ thi được tổ chức hai lần mỗi năm; bài thi chấm theo thang điểm rõ ràng cho từng nội dung kỹ thuật, để học viên biết mình đã đạt được gì và cần luyện thêm điều gì.
“Trên đầu ta chỉ có chính nghĩa mà thôi.”Thầy Ngô Sĩ Quý

Ngày 19.10.2025, các võ đường trong và ngoài nước cùng tham luận về Hệ thống 108. Vĩnh Xuân EZCARE trình bày bài phân tích về Tiêu đả, Trung lộ và Bàn giao tay.
Festival Vĩnh Xuân Về Nguồn 2025 diễn ra ngày 19.10.2025 tại Hà Nội với chủ đề Hệ thống 108. Chương trình mở đầu bằng diễn văn khai mạc của thầy Trần Bá Kiểm, Trưởng ban tổ chức, và lễ dâng hương tưởng nhớ thầy Ngô Sĩ Quý. Thầy Nguyễn Thành Trung dẫn chương trình.
Diễn văn khai mạc nhấn mạnh: Festival là lời tri ân Tổ sư Nguyễn Tế Công, người đưa Vĩnh Xuân vào Việt Nam, và thầy Ngô Sĩ Quý, người lĩnh hội tinh hoa từ Tổ sư và tạo nên hệ phái. “Về Nguồn” để nhắc thế hệ hôm nay rằng mỗi kỹ thuật đều được đúc kết từ thực tế ứng dụng và sự kiên trì của tiền nhân.
Những tham luận năm 2025 là nền cho loạt bài chuyên đề 108 tại Festival 2026.

Ngày 20.10.2024, dâng hương tại Nhà tưởng niệm thầy Ngô Sĩ Quý, tọa đàm Hệ thống 108 và loạt tiết mục của CLB Vĩnh Xuân EZCARE.
Festival Về Nguồn 2024 diễn ra sáng 20.10.2024, quy tụ các võ sư, huấn luyện viên và môn sinh hệ phái Vĩnh Xuân Ngô Sĩ Quý. Các thầy Hoàng Quốc Toàn, Hoàng Quốc Lập, Trần Hậu Tuấn, Nguyễn Đức Dũng, Trần Bá Kiểm, Bùi Nguyên Huân cùng đại diện nhiều võ đường đã có mặt.
EZCARE góp năm tiết mục: đồng diễn và đối luyện Thủ đầu quyền, Ngũ hình tổng hợp, 108 đối luyện đôi, 108 Mộc nhân và Ứng dụng 108. Các môn sinh Vĩnh Xuân Ngô Thị Pháp từ Pháp cũng biểu diễn 108 đối luyện và dẫn tay tự do.
Hệ phái Vĩnh Xuân Ngô Sĩ Quý không chỉ là một hệ thống kỹ thuật võ thuật, mà còn là biểu tượng của trí tuệ, lòng kiên nhẫn và tinh thần nhân văn sâu sắc.Diễn văn khai mạc, thầy Trần Bá Kiểm
Ngày 06.10.2024, cộng đồng EZCARE kỷ niệm 5 năm. Vĩnh Xuân EZCARE mang lên sân khấu phần thị phạm Chi Sao và Khí công.
Ngày 06.10.2024, cộng đồng chăm sóc sức khỏe chủ động EZCARE tổ chức chương trình kỷ niệm 5 năm hoạt động. Trên sân khấu mang biểu tượng cây xanh “Làm chủ Cuộc sống”, Vĩnh Xuân EZCARE thị phạm Chi Sao (dính tay) và biểu diễn Khí công Nội kình.
Phần biểu diễn thể hiện tinh thần Võ · Khí · Dưỡng mà võ đường theo đuổi: võ để rèn phản xạ và sự tự tin, khí công để điều hòa hơi thở và tĩnh tâm, dinh dưỡng để kết quả tập luyện bền vững.



Ngày 22.10.2023, hệ phái kỷ niệm 30 năm cái nôi Vĩnh Xuân trường Nguyễn Văn Trỗi, nơi gieo mầm cho nhiều võ đường, trong đó có Vĩnh Xuân EZCARE.
Chủ nhật 22.10.2023, tại Hà Nội, Vĩnh Xuân Ngô Gia Hoàng Pháp tổ chức chương trình kỷ niệm 30 năm Câu lạc bộ Vĩnh Xuân trường Nguyễn Văn Trỗi, dưới hình thức tọa đàm theo dòng lịch sử, đan xen biểu diễn và chia sẻ của các thế hệ.
Võ đường Vĩnh Xuân trường Nguyễn Văn Trỗi được thầy Hoàng Quốc Toàn ấp ủ và sáng lập năm 1993, với sự trợ giúp của các ông Lê Quốc Khánh, Chu Thành, Hoàng Quốc Lập, Trần Hậu Tuấn. Những môn sinh đầu tiên tập trên sân CLB Quân đội, rồi sân Bảo tàng Lịch sử Quân sự, dưới sự dìu dắt của các thầy Trần Bá Kiểm, Bùi Nguyên Huân, Nguyễn Đăng Dũng, Hoàng Thái, Nguyễn Nam Vinh, Vũ Duy Trường.
Từ cái nôi ấy, nhiều câu lạc bộ ra đời: Vĩnh Xuân Tăng Bạt Hổ (1996), Vĩnh Xuân Tây Hồ, sau là Vĩnh Xuân Nguyễn Gia (1999), Vĩnh Xuân Hàng Trống, sau là Vĩnh Xuân Dưỡng Sinh (2000), Vĩnh Xuân Ngô Gia Hoàng Pháp (2004). Năm 2010, thầy Nguyễn Thành Trung thành lập CLB Vĩnh Xuân EZCARE. CLB trường Nguyễn Văn Trỗi tiếp tục hoạt động tại Cung thể thao Quần Ngựa.
Hạt giống còn lan ra nhiều châu lục: Vĩnh Xuân Europe (2007), Vĩnh Xuân Ngô Thị Pháp (2014), và các học trò tại Nga, Ukraine, Pháp, Italia, Bỉ, Israel, Canada. Mỗi dịp Festival Về Nguồn, những học trò từ xa lại trở về biểu diễn và giao lưu.

Người chiến sĩ Vệ quốc quân, nhà sư phạm và người thầy truyền bá Vĩnh Xuân Quyền: ba chặng đời của thầy Ngô Sĩ Quý (1922–1997) và hai lời răn học trò.

Đại võ sư cao cấp Ngô Sỹ Quý sinh ngày 22/10/1922 tại Hà Nội và từ biệt chúng ta vào một ngày giáp Tết Bính Tý (năm 1997). Ông được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam truy phong Danh hiệu ĐẠI VÕ SƯ môn phải Vĩnh Xuân vào năm 2017 vì những cống hiến đặc biệt vào việc bảo tồn và phát triển võ cổ truyền Việt Nam.
Cuộc đời 75 năm cùa ông có thể chia làm 3 thời kỳ:
Đại võ sư Ngô Sỹ Quý tuổi Tuất, ở ông hội đủ các đức tính: ngay thẳng – thật thà – cương trực – giàu nghị lực – không vì tiền tài, địa vị mà quên đi phẩm giá của con người mình – hết lòng vì mọi người, đồng thời rất tài hoa, khéo léo và quyết đoán.
Ông là người mẫn cảm cao với cái đẹp của nghệ thuật, trước hết là âm nhạc (ông sớm gắn bó với cây đàn Violin với các bản nhạc Tây phương) và đặc biệt là cái đẹp trong đạo lý và kỹ thuật quyền cước cùa môn võ mà ông đã tiếp nhận trực tiếp từ Sư tổ Vĩnh Xuân Quyền Việt Nam Nguyễn Tế Công trong quãng thời gian 6 năm (1939-1945).
Kết hợp những đức tính bẩm sinh người tuổi Tuất với hai yếu tố khách quan nói trên đã hình thành nên triết lý và nhân cách sống cao đẹp của Võ sư Ngô Sỹ Quý. Nó được thể hiện qua hai câu nói ông thường răn dạy học trò lúc sinh thời:
Cách mạng Tháng 8/1945 đã thay đổi tư duy-và hành động của Ngô Sỹ Quý. Đáp lời kêu gọi của Tổ quốc, với lòng yêu nước nồng nàn ông đã quyết định lựa chọn cho mình con đường tham gia cùng Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội và sau đó gia nhập Vệ Quốc đoàn trờ thành người lính của Trung Đoàn Thủ Đô với ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Để tiếp tục con đường đó, ông đã có một quyết định hết sức khó khăn là cáo lỗi lời mời của cụ Tế Công theo Cụ vào Nam để tránh chiến tranh đang lan rộng (lúc đó là đầu năm 1947) dù “ Tình Thầy – Trò” vốn rất cao cả trong Võ thuật. Từ đó Ngô Sỹ Quý đã có những ngày tháng tự hào trực tiếp cầm súng đánh giặc trong đội hình của Sư đoàn 308.
Cho đến năm 1949 một bước ngoặt lớn trong cuộc đời: Ông được điều động sang làm cán bộ phụ trách Thiếu sinh quân của Đại đoàn 308, để từ đó bước chân vào mặt trận mới với tư cách là một Nhà sư phạm (Quản lý và giáo dục thanh thiếu niên) và gắn bó với nó đến cuối đời. Từ năm 1950-1956 ông là giáo viên âm nhạc của Trường Thiếu sinh quân Việt Nam đóng tại Nam Ninh – Quảng Tây, Trung Quốc (gọi là Khu học xá Nam Ninh). Cũng chính những năm sống ở đây được tiếp xúc với giới võ thuật Trung Quốc ông đã nhận ra môn võ thuật mà ông được cụ Tế Công chuyền dạy chính là Vĩnh Xuân Quyền đang được đánh giá rất cao trong giới Võ thuật Trung Quốc (mệnh danh là Quyền trên Quyền). Lúc đó ông nung nấu khát vọng sau này sẽ truyền bá môn võ này đến với thế hệ trẻ Việt Nam nhằm: “nâng cao thể chất và tri thức sống cho thế hệ thanh niên Việt Nam bằng cái đẹp cùa Vĩnh Xuân quyền”.
Năm 1956, thầy Ngô Sỹ Quý về nước công tác tại Vụ Sư phạm Bộ Giáọ dục trong vai trò cán bộ nghiên cứu và chi đạo lĩnh vực Văn – Thể – Mỹ. Trong thời gian từ 1959- 1965, ông bắt đầu việc tìm hiểu, chuẩn bị các tư liệu để thực hiện khát vọng truyền bá Vĩnh Xuân Quyền cho thế hệ trẻ Việt Nam.
Sinh thời Thầy Ngô Sỹ Quý quan niệm “Cái khắc nghiệt nhất trong cuộc đời là thời gian” và ông đã phải chạy đua với thời gian để tìm tòi, nghiên cứu, xây dựng và phát triển rồi hệ thống lại những tinh hoa của Vĩnh Xuân Quyền, ông đã phải bền bỉ dành toàn bộ tâm trí và sức lực để thực hiện công việc trong 3 giai đoạn:
1. Tìm hiểu thêm để rút ra kết luận đủ hơn về Nguyễn Tế Công và di sản Cụ để lại cho giới Võ thuật Hà Nội (cuối những năm 50)
2. Sưu tầm, ôn luyện và củng cố lý luận cho kiến thức võ thuật của mình (đầu những năm 60).
3. Tổng kết Vĩnh Xuân Quyền và hiện thực hóa việc giữ gìn, truyền bá, phát triển Vĩnh Xuân Quyền cho thanh thiểu niên Việt Nam góp phần làm phong phú cho Võ cỗ truyền Việt Nam và công tác giáo thể chất tại Thủ đô Hà Nội.
Bằng sự kiên trì theo đuổi khát vọng của mình ông đã bền bỉ bắt đầu quá trình này từ truyền dạy cho lớp con cháu trong gia đình (khoảng 1967-1968) rồi mở rộng dần cho nhiều thế hệ thanh niên 5x, 6x,7x và chính họ sau này đã làm rạng danh tên tuổi của Ông. Trong buổi Tọa đàm tưởng nhớ 20 năm ngày Danh sư Ngô Sỹ Quý qua đời, nhiều thế hệ học trò đã nói lên cảm nhận về Thầy Ngô Sỹ Quý như sau:
Ông là một người Việt Nam giàu lòng yêu trân trọng là con người sống khép kín, không thích khoa trương, không vỗ ngực tự phụ, ưa khẳng khái, không sợ cường quyền.
võ sư Trần Việt Trung
Ông là con người có sức thuyết phục lôi cuốn người khác mãnh liệt. Đối với ông, dạy võ không phải là dạy đấm đá (đó là võ biền) mà là dạy cái triết lý làm người, đề cao sự nhận thức từ đó mà giác ngộ hiểu lẽ phải để hành động cho đúng, cho tốt.
võ sư Nguyễn Tiến Long
Thầy Ngô Sỹ Quý là người cẩn trọng trong tuyển chọn học trò. Ông luôn tìm hiểu kỹ tính cách tư chất từng người để từ đó có cách truyền dạy hiệu quả nhất, ông là người thầy có nhân cách lớn hiếm có.
võ sư Nguyễn Nam Vinh
Tu thân để làm chủ được mình, để tự tin vào chính mình trong mọi trường hợp. Ngô Sỹ Quý là tấm gương sáng về nhân cách cho chủng ta noi theo.
Võ Ngọc Đạm
Có thể còn nhiều nhiều nữa những kỷ niệm những ký ức sâu đậm trong tâm trí mỗi thế hệ, mỗi môn đệ đã từng được trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp nhận sự dạy dỗ cùa Thầy Ngô Sỹ Quý và có cả những câu chuyện truyền miệng về Thầy Ngô Sỹ Quý (nhất là về các nội dung võ thuật như kỹ năng phi tiêu, đoản côn, dao quai, ngoại khí, nội khí v.v…).
(trích từ bài phát biểu của Ông Hoàng Quốc Lập trong Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thầy Ngô Sĩ Quý, 22.10.2022)
Hồi ức của võ sư Nguyễn Tiến Long về thầy Ngô Sĩ Quý: một năm “thử thách” trước khi được nhận làm học trò, và quan niệm “khỏe là thăng bằng”.
(Tưởng nhớ bác Ngô Sĩ Quý nhân ngày giỗ thứ 20 với lòng biết ơn sâu sắc – NGUYỄN TIẾN LONG)
Tôi là bạn học với Trần Hữu Nghị từ thời ở trường Nguyễn Văn Trỗi. Thi đại học, chúng tôi cùng đủ điểm đi “tây”, cùng được phân sang học ở Liên Xô. Tuy khác thành phố nhưng chúng tôi vẫn duy trì tình cảm thân thiết. Tốt nghiệp về nước chúng tôi ở trong tình trạng chung chờ phân công công tác. Thời gian rảnh rỗi mấy anh em “ở Tây về” thường tụ tập tại nhà Nghị ở số 99 phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Nghị có người em út tên là Trần Việt Trung, khi ấy vừa tốt nghiệp Đại học Ngoại thương và cũng đang trong tình trạng “thất nghiệp” như chúng tôi. Tuổi tác tuy có chênh nhau chút ít nhưng tính tình hợp, đặc biệt là có chung sở thích võ thuật nên chúng tôi nhanh chóng trở nên thân thiết. Tôi đến Trần Hung Đạo như về nhà mình, có nhiều hôm chơi khuya còn ngủ lại.
Ngay từ khi còn nhỏ, sống ở Quân khu Nam Đồng, tôi đã tập võ, nhưng đa phần chỉ là học lỏm các thế, miếng của các anh đi trước chứ chưa thành bài bản. Cũng từng va chạm với bên ngoài mà phần lớn là giành phần thắng nhưng không phải do giỏi võ mà chủ yếu dựa vào sức khỏe và sự can đảm, quyết liệt, không biết sợ.
Trong một lần gặp gỡ với anh Hoàng Quốc Toàn ở 99 Trần Hưng Đạo, được anh thể hiện lối đánh mềm mại như bông, như nhung, vô cùng linh hoạt, tất cả chúng tôi bị thuyết phục, xin theo học. Anh Toàn giới thiệu mấy anh chúng tôi, gồm Trung, Nghị, Long xuống gặp thầy của anh – bác Ngô Sĩ Quý.
Thật bất ngờ đối với tôi cùng một số anh em bạn bè thân thiết, bác Quý thu nạp ngay Trung làm môn đệ nhưng lại từ chối dạy tôi! Thú thật là khi ấy tôi không khỏi có chút chạnh lòng vì luôn tự tin mình là người tốt, có tri thức lại không ngại va chạm cả với tây – điều này đã nhiều người biết. Đến khi đã trở thành học trò của bác tôi mới biết lý do, lần gặp đầu tiên bác thấy tôi tính tình có nét lông bông, lãng tử nên cần có thời gian kiểm tra, thử thách thêm.
Thời gian ấy kéo dài… hơn một năm!
Nhưng tôi chẳng buồn lâu bởi bác Quý thực sự có sức hút đối với tôi, một sự “hấp dẫn” khó cưỡng nên dù chưa phải là học trò, tôi vẫn thường xuyên qua lại nhà bác. “Thấy cơm thì ăn, thấy việc thì làm”, chỉ có võ thuật là tuyệt nhiên chưa được đả động tới.
Bác Quý luôn vui mỗi khi tôi đến chơi. Những lần hai bác cháu nói chuyện, bác thường đưa ra những “lý thuyết khó” với tôi lúc đó để cùng trao đổi. Ví dụ các khái luận triết học phương Đông như âm – dương – ngũ hành hay sắc – không của Phật giáo… Thi thoảng bác cũng nói về võ nghệ nhưng dưới dạng võ triết – võ lý; trong đó những đặc trưng nổi bật của các môn phái võ thuật mang đậm dấu ấn thời đại cũng được bác đề cập đến. Tư tưởng xuyên suốt của bác Quý là đề cao nhận thức, có hai từ bác thường xuyên nhắc đi nhắc lại là giác ngộ. Từ nhận thức đến giác ngộ là một quá trình, dài ngắn tùy theo từng người nhưng chỉ khi hiểu và hiểu đúng, hiểu sâu sắc thì người ta mới có thể thực hành, được tốt, bởi suy cho cùng, mọi hành động đều do nhận thức và từ nhận thức mà ra. Nếu nhận thức sai các nguyên lý, quy luật; về chủ quan và khách quan trong vận động thì ắt sẽ dẫn đến sai lệch trong luyện tập. Khi ấy càng tập, càng phản tác dụng, càng luyện càng sớm thoái hóa. Tất nhiên như vậy thì võ công cũng không thể giỏi, nếu có được chút thành tựu thì cái giá phải trả rất lớn.
Sau này khi đã có nhân duyên được bác chỉ bảo, tôi nhận thấy bác thường đánh giá các bài tập và các bài kiểm tra bằng quan điểm nhận thức như đã nêu ở trên. Với bác dạy võ – học võ không phải chỉ dạy – học mấy cái đấm, cái đá – những người ấy dù có mang danh “giỏi võ” thì cũng chỉ đến mức đi làm vệ sĩ cho người ta mà thôi. Học võ để xây dựng con người toàn diện, khi đất nước cần đến, thì đó phải là những bậc lương tướng trong đời.
Nghĩ lại, thấy tầm tư tưởng của bác rất lớn, nhất quán và xuyên suốt.
Trong quãng thời gian một năm đó với tôi có rất nhiều “thử thách” – nếu chúng ta gọi như vậy, nhưng mỗi một “thử thách” là những bài học, kiến thức, xử thế bác truyền lại để tác động làm thay đổi nhận thức của học trò, để học trò có một nhận thức đúng trước khi bước vào chặng đường dằng dặc của võ thuật. Tôi nhớ như in “thử thách” cuối cùng, là bây giờ nói vậy chứ lúc ấy đã biết đầu cuối thế nào đâu. Bác hỏi tôi: Có biết nấu ăn không? Tôi đáp có. – Vậy thì chú đi chợ, nấu một bữa cơm ở nhà tôi.
Tôi tự tay vào bếp thổi cơm. Các món ăn cũng đơn giản, có rau muống luộc, nước dầm sấu, kèm theo mấy quả cà. “Đặc sắc” nhất là món thịt lợn kho tàu. Bác nếm thử, khen với bác Loan: “Long nó làm món này ngon đấy!”. Trước lúc ra về, bác bảo, từ ngày mai đến đây mà học. Tôi mừng không thể tả khi chính thức được bác nhận làm học trò. Mà thực ra, trong một năm qua bác đã chỉ dạy, qua đó chuẩn bị cho tôi rất nhiều điều trước khi bước vào học võ. Tôi nghĩ rằng, chỉ những người thầy lớn mới có thể truyền đạt cho học trò những điều lớn lao, sâu sắc từ những bài học tưởng chừng rất nhỏ.
Thời gian tôi tập quyền dưới sự chỉ dạy của bác Quý không dài, nhưng cũng đầy đủ tất cả các bài quyền trong học thuật của bác. Thật may, người bạn tập cùng với tôi là anh Trần Việt Trung. Tập được nửa năm, tôi xin phép bác, về quyền đã có Trung rồi, không còn phải lo lắng gì nữa, bác cho cháu tập trung luyện phần dưỡng sinh trong vận động quyền thuật. Và cũng thật may, bác đã đồng ý.
Phàm là con người ai cũng mong mình có sức khỏe. Bác Quý từng định nghĩa “khỏe là thăng bằng”- điều này nhiều người biết vì bác vẫn luôn nhắc đi nhắc lại. Nhưng trong cuộc sống, và lao động, do đòi hỏi của công việc, con người ta thường xuyên phải đối mặt với những trạng thái buồn vui, cáu giận, tính toán, suy nghĩ… khiến đầu óc căng thẳng, thân thể đau mỏi, khí huyết tắc nghẽn, rối loạn chuyển hóa… nghĩa là cả thân và tâm đều mất thăng bằng, yếu cả về cơ học lẫn sinh học dẫn đến trí lực mệt mỏi, đau đầu, giảm sút khả năng tư duy sáng tạo. Vì vậy bác Quý luôn đề cao dưỡng sinh, tập luyện dưỡng sinh để sửa chữa sự mất thăng bằng trong vận động. Nói cách khác là phải rèn luyện để nâng cao cả thể lực và trí lực, nhằm lấy lại thăng bằng cho cơ thể – đó mới là cái gốc của sức khỏe.
Dưỡng sinh ở đây là dưỡng sinh vận động, khác hẳn với một số môn dưỡng sinh khác chỉ luyện tập trong môi trường chủ quan mà không có thực tiễn khách quan phong phú, sinh động, về vấn đề này, bác Quý từng tổng kết: “Giá trị của võ (ở đây chỉ bàn đến tính chiến đấu và tính hiệu quả trong chiến đấu – tôi nhấn mạnh) trong xã hội hiện đại sẽ ngày càng giảm, nhưng mọi thời đại, mọi người đều cần dưỡng sinh. Con người phải ý thức được việc tự mình sửa chữa sự mất thăng bằng, bởi lâu ngày mất thăng bằng sẽ sinh ra cả thân bệnh lẫn tâm bệnh”. Chính vì điều này nên bác Quý luôn trăn trở tìm phương pháp phổ cập dưỡng sinh trong nhà trường phổ thông.
Khi đã trải đời hơn, tôi vô cùng biết ơn bác Quý về quãng thời gian “thử thách” quý báu này. Những nguyên lý trên đã giúp tôi giác ngộ rất nhiều điều trong quá trình được bác trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật sau này. Học thuật của bác rất vi diệu, không thể nói ra một lúc trên vài trang giấy. Nhưng nhân dịp này, tôi xin tóm tắt lại tinh thần học thuật của bác Ngô Sĩ Quý từ những gì mình được thụ giáo theo hai nội dung: Dưỡng sinh và Võ thuật để các bạn tham khảo.
Mục tiêu của con người là sống khỏe, sống thọ và có trí tuệ minh mẫn nên cần phải rèn luyện đồng thời thân thể và tinh thần thì mới khỏe cả về thể lực và trí lực.
– Thân thể con người ta sinh hoạt và lao động ở các tư thế khác nhau, lâu ngày bị co cứng, nếu chỉ nghỉ ngơi tĩnh (nằm, ngồi) không giải quyết được. Để sửa chữa trạng thái mất cân bằng này ta buộc phải làm giãn ra, lỏng ra cho khí huyết lưu thông, cơ thể sẽ bớt đau, mỏi.
– Tinh thần con người cũng vậy, rất dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, mỏi mệt do thường xuyên liên tục phải suy nghĩ, toan tính…cùng các tình trạng thái quá của cảm xúc (quá vui, quá buồn, quá, quá giận …). Do vậy, tinh thần cũng rất cần được nghỉ ngơi để giảm bớt căng thẳng, lấy lại sự an lạc.
Vậy phải làm thế nào để dưỡng sinh theo nghĩa nuôi dưỡng và sinh sôi?
Bản chất của vận động là tập cho cơ thể được giãn lỏng ra để sửa chữa những phần bị co cứng nên việc đầu tiên là phải quay các ổ khớp: cổ tay – khuỷu tay – cánh tay (vai); cổ chân – gối – đùi (háng); các khớp cổ cùng xương sống. Sau đó làm lỏng bằng cách văng quay các phần cơ thể đó (chỉ có văng quay mới thật sự lỏng). Trong quá trình vận động dẫn đến mất thăng bằng, chỉ có chuyển động quay (hiệu ứng con quay) mới nhanh chóng lấy lại được thăng bằng. Nói cách khác, phải quay bằng lực văng thì mới lỏng được. Nếu chỉ quay không thì sẽ không lỏng, thậm chí còn bị co cứng; nếu chỉ văng không thì hết quỹ đạo vận động sẽ buộc phải dùng lực để co lại (thu về). Như vậy, phải thực hiện đồng thời hai hành vi trong một vận động, đó là văng quay.
Cùng với quay phải kết hợp tập thở trong vận động. Tập thở không quá khó, chỉ cần chú ý một chút. Lúc bắt đầu văng quay thì thở ra bằng miệng (thổi ra); theo cơ chế tự nhiên, cơ thể sẽ tự hít vào theo nhu cầu nội tại mà người tập không cần điều khiển.
Đó là luyện thân.
Bên cạnh việc luyện thân còn phải chú ý luyện tâm. Khi tâm thức được nghỉ ngơi, thăng bằng thì sẽ bớt loạn động, trí tuệ minh mẫn và sẽ suy nghĩ tích cực, tâm thiện giúp tăng cường năng lực tư duy, nhanh chóng đạt tới trạng thái cảm xúc thật. Trái lại, khi tâm lo lắng, buồn chán, trì trệ thì dễ có ý nghĩ bất thiện, tiêu cực bởi tâm thức điều hành tất cả, quyết định mọi thành công của bản thân. Đây là một sáng tạo của bác Quý mà sinh thời bác hay dùng từ “nhập tĩnh” để chỉ trạng thái lấy lại thăng bằng của tâm thức. Theo bác Quý, ít có môn nào hướng dẫn rèn luyện tâm thức trong vận động.
Cách thức luyện tập khá phức tạp nên người tập luyện cần phải nằm được nguyên lý và kiên trì, gồm 3 bước:
– Bước 1: Theo dõi việc vận động của thân để biết mình đang làm gì (tức là cảm xúc). Lưu ý là chỉ “quan sát” mà tuyệt đối không “phán xét”. Làm được như vậy là tâm được tạm nghỉ.
– Bước 2: Theo dõi hơi thở.
– Bước 3: Có ý thức làm nhiệm vụ “tắt” vận động. Khi văng chính là lúc tắt máy thả trôi – trong ý thức (giống với trạng thái được buông xả trong tu tập tâm linh) – thì tâm sẽ được lỏng ra, đỡ căng thẳng. Trạng thái này còn cao hơn là nghỉ ngơi đơn thuần.
Theo tôi, nền tảng cơ bản của võ thuật nhu quyền được xây dựng từ Dưỡng sinh. Gồm các nội dung sau:
Bản chất phát lực là bằng thân theo biểu tượng vận động thân xà (con rắn) chứ không phải bằng tay hay chân. Đây là nguyên tắc, yêu cầu tiên quyết, nên cơ chế của phát lực (ra đòn) là giật – văng – quay bằng thân.
– Giật (lực co): Để tạo lực, phát huy tối đa sức mạnh của cơ thể. Giật là cương (dương).
– Văng (duỗi): Để giải phóng lực và làm tăng thêm tốc độ ban đầu của lực. Văng là nhu (âm), là nghỉ.
– Quay: Để lấy lại cân bằng, trở về trạng thái thăng bằng. Có quay thì khi va đập vào khách quan, lực sẽ trượt theo phương tiếp tuyến mà không bị phản hồi lại (tức không chịu sự tác động của phản lực).
Về phần tâm thức trong luyện tập phát lực tôi muốn nhấn mạnh: người tập hãy cố gắng rèn luyện 2 trong 1, tức là luôn có tâm thức trong rèn luyện thân thể để thân và tâm không tách rời nhau.
Nói một cách giản dị thì đây chính là đu đẩy mà mục tiêu là mượn lực của đối phương làm đối phương mất thăng bằng. Nghĩa là đẩy sẽ thua đu – đu sẽ thua đẩy tùy hành vi nào đến trước. Đây là nguyên tắc khách quan cho nên đúng trong mọi trường hợp. Như đã nói ở trên, chuyển động là mất thăng bằng nên đu đẩy theo nguyên tắc này để lấy lại thăng bằng, nghĩa là hòa liền với khách quan.
Tập đu đẩy động là tập mất thăng bằng và lấy lại thăng bằng; vì thế mới dẫn đến điều tưởng như nghịch lý, đó là ai thua tốt thì sẽ giỏi võ hay nói cách khác là phải biết thua trước khi thắng.
Tiếp là tiếp xúc, không né tránh khách quan để vận dụng được quy luật đu đẩy động. Cách thứ nhất là quay thân vào đòn đánh (nhập nội) kèm theo khuôn tay (tay chết). Cách này chỉ tiếp xúc đơn thuần bằng lực quay.
Một cách khác để tiếp đòn là ra lực luôn, nghĩa là phát lực vào đối phương trong quá trình quay. Với cách này tay có thể chết có thể sống (theo nguyên lý con lắc đơn, con lắc kép).
Tập ý quyền để nối được vận động ý thức và vận động cơ thể một cách nhuần nhuyễn (thường gọi là linh giác). Bởi ý thức và thân chỉ liên hệ được với nhau thông qua một đối tác trung gian đó là cảm xúc. Do vậy luyện tập đúng để xây dựng hệ thống cảm xúc của thân sao cho thật nhạy cảm, có thế thì trong thân luôn có tâm và tâm luôn ở trong thân, nghĩa là thân và tâm hòa liền hoàn toàn với nhau. Khi ấy mới đạt tới được phản xạ có điều kiện tự nhiên như vô thức, nghĩa là không cần điều khiển. Và vận động của mình sẽ đạt đến sự biến hóa vô cùng bởi năng lượng dễ sinh ra, nhanh chóng tái tạo, ít bị hao tổn khí lực.
Võ thuật, theo bác Quý, không đơn thuần là cách đánh nhau, khả năng tự vệ hay thượng đài tỉ thí tranh giành giải thưởng, danh hiệu mà là rèn luyện sức khỏe thể lực và trí lực. Học võ cũng là học ứng xử nên nó vô cùng cần thiết, đặc biệt với thế hệ trẻ, từ lứa tuổi thiếu niên. Nhưng trong xã hội hiện đại, có cái quan trọng hơn cả võ thuật, đó là dưỡng sinh. Dưỡng sinh giúp người ta giác ngộ, tìm được chân hạnh phúc và bởi thế nên nó cần thiết suốt đời cho mọi người, mọi lứa tuổi. Đó cũng chính là điều mà bác Ngô Sĩ Quý luôn tâm niệm, mong muốn trao truyền cho thế hệ mai sau.
Tiếp thu tư tưởng của bác Ngô Sĩ Quý, một nhà giáo – nghệ sĩ đồng thời là một người thầy mà tôi vô cùng kính trọng và biết ơn, tôi cố gắng phát huy giá trị nội dung dưỡng sinh – nhu quyền theo đúng tinh thần đó và hôm nay xin chia sẻ với mọi người. Ngõ hầu để tất cả hình dung ra con đường mình phải đi và cái đích sẽ đến.
Hà Nội, ngày 4 tháng 8 năm 2017
Sư tổ Nguyễn Tế Công và thầy Ngô Sỹ Quý: một người mang Vĩnh Xuân sang Việt Nam, một người gìn giữ, hệ thống hóa và trao truyền.
Bạn có biết võ thuật đỉnh cao không phải để chiến đấu thắng thua, mà là để “chữa bệnh”, “thoát chết” và tu rèn nhân cách? Hãy cùng bước vào thế giới bí ẩn của Vĩnh Xuân Quyền Việt Nam qua cuộc đời của Sư tổ Nguyễn Tế Công và người học trò ưu tú – Thầy Ngô Sỹ Quý để khám phá những bài học võ học và nhân sinh sâu sắc.
Mục tiêu bài viết:
Cụ Nguyễn Tế Công (1877 – 1959) sinh tại Phật Sơn, Quảng Đông, Trung Quốc. Cụ là một danh sư võ thuật lừng lẫy, người đã mang ngọn lửa Vĩnh Xuân Quyền thắp sáng tại đất nước Việt Nam.
Năm 1938, ở tuổi ngoài 60, cụ lánh nạn sang Việt Nam và làm quản gia cho gia đình họ Cam – một thương gia người Hoa giàu có tại Hà Nội. Tại đây, cụ sống mai danh ẩn tích để tránh sự dòm ngó của chính quyền thời bấy giờ.
Cụ Nguyễn Tế Công vô cùng kiệm ngôn và kín đáo. Cụ nhận dạy võ riêng cho con trai cả gia đình họ Cam là Cam Túc Cường và sau đó là người bạn thân thiết của anh – chàng thiếu niên Ngô Sỹ Quý. Ngoài ra, cụ cũng có dạy một số học trò khác. Cụ lựa chọn đệ tử rất kỹ và tuyệt đối không truyền thụ võ công cho người ngoài để bảo vệ an toàn cho bản thân và đệ tử.
Võ thuật của cụ Nguyễn Tế Công không chỉ là kỹ thuật chiến đấu mà là một hệ thống triết lý nhân sinh sâu sắc:
Hệ thống võ học cụ Nguyễn Tế Công truyền dạy vô cùng phong phú và đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì tuyệt đối:
Thầy Ngô Sỹ Quý (1922 – 1997) sinh ra trong một gia đình trí thức tại Hà Nội. Thầy là người có cá tính mạnh mẽ, yêu thích tự do, có năng khiếu âm nhạc (chơi violon) và cưỡi ngựa bắn súng từ nhỏ.
Mối nhân duyên gặp gỡ cụ Nguyễn Tế Công năm 1938 thông qua người bạn Cam Túc Cường đã thay đổi cuộc đời thầy. Suốt nhiều năm ròng rã, thầy đã tiếp thu trọn vẹn tinh hoa võ học và y thuật từ Sư tổ.
Sau ngày đất nước thống nhất, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, thầy Ngô Sỹ Quý vẫn âm thầm hệ thống hóa các kiến thức võ học, rèn luyện môn sinh và truyền lại những tư liệu chân thực nhất về Sư tổ Nguyễn Tế Công cho thế hệ mai sau.
Những điểm cốt lõi cần nhớ:
(Nguồn: Từ cuốn sách “Quyền sư” của Võ sư Trần Việt Trung)
Nhu quyền như Vĩnh Xuân và Thái Cực rèn nội công theo ba bước: luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần nhập tĩnh. Kiểu thở KC-84 của GS Tô Như Khuê.
Liệu võ thuật có phải chỉ dành cho tự vệ, chiến đấu, còn dưỡng sinh khí công chỉ dành cho người già yếu? Câu trả lời từ khoa học hiện đại sẽ khiến bạn bất ngờ: sự kết hợp hài hòa giữa nhu quyền (võ mềm) và khí công chính là chìa khóa vàng giúp tối ưu hóa sức sống của con người, giúp cơ thể thích ứng vượt trội với các trạng thái căng thẳng (stress) cực hạn—ngay cả đối với những ngành nghề đặc biệt như phi công vũ trụ!
Trong bài viết này, chúng ta sẽ đạt được các mục tiêu sau:
Khác với quan niệm thông thường coi võ thuật chỉ là những đòn đánh đối kháng mạnh mẽ, võ thuật dưỡng sinh đi sâu vào việc nuôi dưỡng và bảo vệ sự sống. Đường lối này được gọi là nhu đạo (võ mềm), tiêu biểu nhất là Thái Cực Quyền và Vĩnh Xuân Quyền.
Để hiểu rõ nét độc đáo của võ mềm dưỡng sinh Á Đông, chúng ta hãy đặt nó trong tương quan so sánh với các phương pháp rèn luyện khác:
Nguyên lý cơ bản của nhu quyền là lấy mềm thắng cứng, lấy đầu óc thắng chân tay, tiết kiệm tối đa năng lượng của cơ thể. Người tập không dùng sức chọi sức một cách thô bạo mà dùng sự mềm dẻo để tiêu đòn, hóa đòn của đối phương, biến khó khăn thành thuận lợi.
Trong võ thuật nhu đạo, nội công (hay khí công) là nền tảng cốt lõi giúp tạo ra sức mạnh từ bên trong. Quá trình luyện tập nội công được chia làm ba giai đoạn khoa học và chặt chẽ:
Giai đoạn 1: Luyện tinh thành khí (Chuyển hóa năng lượng)
Giai đoạn 2: Luyện khí thành thần (Cân bằng thần kinh)
Giai đoạn 3: Luyện thần nhập tĩnh (Làm chủ tâm thể)
Để đưa các nguyên lý nội công phức tạp của Thái Cực và Vĩnh Xuân vào thực nghiệm một cách đơn giản, Giáo sư Tô Như Khuê đã đề xuất kiểu thở riêng mang tên KC-84. Phương pháp này tích hợp cả thở bụng và thở ngực, rất dễ thực hành mà không cần giáo viên hướng dẫn trực tiếp.
Bước 1: Tư thế chuẩn bị
Bước 2: Cách thở bụng 3 thì phối hợp (Thì thở vào)
Bước 3: Thì thở ra liên tục
Bước 4: Điều khiển ý thức (Dẫn khí)
Liệu phương pháp rèn luyện cổ truyền này có thực sự hiệu quả hay chỉ là những lời đồn thổi cảm tính? Các nghiên cứu thực nghiệm tâm sinh lý nghiêm túc đã đưa ra những con số vô cùng thuyết phục:
1. Thể lực vượt trội (Chỉ số PWC170) Nghiệm pháp đạp xe lực kế cực hạn PWC170 cho thấy nhóm võ sinh tập nhu quyền đạt công suất lao động thể lực bình quân lên tới 1760,83 kGm/phút—xấp xỉ mức của các vận động viên cao cấp (vượt trội so với sinh viên quân y thông thường là 1068 kGm/phút). Điều đặc biệt là sự tăng thông khí khi lao động của họ chủ yếu nhờ thở sâu (tăng biên độ) chứ ít tăng tần số thở, giúp bảo vệ quả tim không bị quá tải.
2. Tối ưu hóa trao đổi khí với KC-84 Khi đo bằng máy phế dung ký vòng kín, kiểu thở KC-84 đạt hiệu quả trao đổi khí vượt trội so với thở bình thường:
3. Điện não đồ (EEG): Trạng thái “Tỉnh táo với chuyển hóa thấp” Ghi điện não đồ ở các đối tượng thực hành nhập tĩnh ghi nhận sự xuất hiện đồng bộ và mạnh mẽ của sóng Alpha (nhịp anpha) ở vùng chẩm của não. Đây là bằng chứng khách quan cho thấy vỏ não đang ở trạng thái thư giãn sâu, nghỉ ngơi tích cực nhưng hoàn toàn tỉnh táo và nhạy bén (khác biệt rõ rệt với trạng thái ngủ hay nửa ngủ).
Võ thuật dưỡng sinh không chỉ đơn thuần là các vận động cơ bắp hay chiêu thức chiến đấu, mà là một khoa học rèn luyện tâm thể toàn diện giúp nâng cao tối đa bản lĩnh thích ứng của con người.
Những điểm cốt lõi cần nhớ:
(Nguồn: Từ cuốn sách “Tác dụng dưỡng sinh của võ thuật” của Giáo sư Tô Như Khuê)
Từ một gia đình thương gia ở Phật Sơn đến Hà Nội và Chợ Lớn: cuộc đời người đặt nền móng cho Vĩnh Xuân tại Việt Nam và những học trò tiêu biểu.
![]() | Trong lịch sử phát triển của võ thuật Đông Á thế kỷ XX, cuộc di chuyển của danh sư Yuen Chai Wan (Nguyễn Tế Công) từ Nam Trung Hoa sang Việt Nam được xem là một bước ngoặt lịch sử. Ông không chỉ là đại diện kiệt xuất của dòng Vịnh Xuân Sơn Đầu mà còn là người đặt nền móng khai sáng ra Vĩnh Xuân Nam Phái (Việt Nam Vĩnh Xuân Quyền) — một hệ thống võ học độc đáo, dung hòa giữa sự tinh tế của Phật gia, chiều sâu của nội gia quyền và tính mềm mại của văn hóa Việt. |
Yuen Chai Wan sinh năm 1877 tại Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Đây được xem là “thánh địa” võ thuật của miền Nam Trung Hoa thời bấy giờ, nơi sản sinh ra nhiều danh sư lừng lẫy.
Ông sinh ra trong một gia đình thương gia giàu có, có vị thế xã hội lớn và truyền thống tôn sùng võ học. Ông có một người em trai kém mình vài tuổi là Yuen Kay Shan (Nguyễn Kỳ Sơn) — người sau này cùng với Diệp Vấn (Yip Man) và Dao Choy trở thành “Phật Sơn Tam Hùng” danh tiếng.
Sinh tại Phật Sơn, Quảng Đông
Thụ giáo Võ sư Hoắc Bảo Toàn
Bái sư Đại sư Phùng Thiếu Thanh
Sang Việt Nam định cư
Di chuyển vào Chợ Lớn (Sài Gòn)
Tạ thế tại Sài Gòn
Sự nghiệp võ thuật của Yuen Chai Wan được nhào nặn bởi hai nguồn kỹ pháp đỉnh cao:
Sự kết hợp giữa khung kỹ pháp dũng mãnh của Hoắc Bảo Toàn và chiều sâu nội gia của Phùng Thiếu Thanh đã biến Yuen Chai Wan thành một cao thủ hàng đầu với kình lực thâm hậu và kỹ pháp biến hóa kỳ ảo.
Thập niên 1930, tình hình chính trị – xã hội tại Trung Quốc trở nên phức tạp do chiến tranh Trung – Nhật và các biến động nội bộ. Năm 1936, ở tuổi 59 — độ tuổi mà đa số các danh sư chọn quy ẩn — Yuen Chai Wan quyết định rời quê hương Phật Sơn sang Việt Nam.
Đến Việt Nam, ông lấy tên gọi theo âm Hán – Việt là Nguyễn Tế Công.
Sự đổi tên mang ý nghĩa lịch sử:
Việc đổi tên thành Nguyễn Tế Công không chỉ đánh dấu sự hòa nhập với văn hóa đất nước mới, mà còn là cột mốc khai sinh ra một dòng phái độc lập: Vĩnh Xuân Nam Phái.
[Vịnh Xuân Phật Sơn / Sơn Đầu]
Yuen Chai Wan
│
┌──────────┴──────────┐
▼ ▼
(Chi Trung Quốc) (Chi Việt Nam)
Yuen Kay Shan Nguyễn Tế Công (1936)
│ │
▼ ├───────────────────────┐
Nhánh Sâm Năng ▼ ▼
(Quảng Châu) [Giai đoạn Hà Nội] [Giai đoạn Sài Gòn]
(Trần Văn Phùng, (Lục Quốc Tùng,
Ngô Sĩ Quý,...) Đỗ Đình Tuấn,...) Khi đặt chân lên Hà Nội, cụ Nguyễn Tế Công sinh sống khép kín tại các khu phố cổ như Hàng Buồm, Khâm Thiên, Hàng Gai. Cụ làm nghề đông y, bốc thuốc, châm cứu để trang trải cuộc sống và ẩn mình.
Với tư duy của một võ sư cựu trào, Sư tổ Nguyễn Tế Công không mở võ đường thương mại hay thu nhận học đệ mass. Cụ chỉ nhận đệ tử qua sự giới thiệu uy tín và trải qua quá trình thử thách khắt khe:
Trong gần 20 năm ở miền Bắc, Cụ đã đào tạo ra một thế hệ học trò kiệt xuất, trở thành những cây đại thụ của Vĩnh Xuân Hà Nội sau này:
Trong giai đoạn này, bài quyền Vĩnh Xuân tại Hà Nội dần hình thành nét đặc trưng: chú trọng Xả lỏng, dùng Khí thay cho Lực thô, lấy sự uyển chuyển để chế ngự sức mạnh cứng cỏi.
Năm 1954, trước những biến động của lịch sử, Sư tổ Nguyễn Tế Công di chuyển vào miền Nam và định cư tại khu vực Chợ Lớn (Sài Gòn) — nơi có đông cộng đồng người Hoa sinh sống.
Tại đây, dù tuổi tác đã rất cao (trên 75 tuổi), Cụ vẫn tiếp tục âm thầm truyền dạy võ học cho một số đệ tử duyên nợ miền Nam:
Năm 1959, Sư tổ Nguyễn Tế Công tạ thế tại Sài Gòn, hưởng thọ 82 tuổi. Cụ được an táng tại Nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Dương). Sự ra đi của Cụ để lại niềm tiếc thương vô hạn cho võ lâm Việt Nam, nhưng di sản võ học mà Cụ dày công gieo mầm thì tiếp tục đâm chồi nổ hoa.
Khác với dòng Vịnh Xuân Hồng Kông (do Đại sư Diệp Vấn phát triển, thiên về tính thực dụng, đòn thẳng, ngắn và siêu tốc), dòng Vĩnh Xuân do Sư tổ Nguyễn Tế Công truyền dạy tại Việt Nam sở hữu một hệ thống kỹ pháp phong phú và mang đậm dấu ấn nội gia:
| Tiêu Chí So Sánh | Vịnh Xuân Hồng Kông (Diệp Vấn) | Vĩnh Xuân Nam Phái (Nguyễn Tế Công) |
| Trọng tâm phát lực | Phát lực từ hông/thắt lưng, dựa trên cấu trúc bộ khung dứt khoát (Thốn kình). | Thả lỏng tuyệt đối, phát lực toàn thân qua sóng lưng và khí công (Nội kình). |
| Hệ thống bài quyền | 3 bài chính (Tiểu Niệm, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ). | Bài căn bản + các bài Khí công, Ngũ Hình Quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc). |
| Thân pháp & Di chuyển | Giữ vững đường trung tuyến, tiến lùi đường thẳng ngắn. | Di chuyển theo góc 45°/90°, thân pháp cuộn xoay, biến hóa linh hoạt. |
| Ứng dụng Cầm Nã | Sử dụng đòn khóa bẻ đơn giản ở cự ly hẹp. | Tích hợp sâu hệ thống Cầm Nã Thủ (bắt bẻ khớp) và Xương Xía (mổ/bấm huyệt). |
Sư tổ Nguyễn Tế Công không chỉ để lại một hệ thống đòn thế chiến đấu hiệu quả, mà quan trọng hơn, ông đã truyền cho các thế hệ học trò Việt Nam một Đạo sống:
Ngày nay, từ hai trung tâm lớn là Hà Nội và TPHCM, Vĩnh Xuân Nam Phái đã theo chân các thế hệ học trò vươn ra nhiều quốc gia trên thế giới như Pháp, Nga, Canada, Mỹ… Bạn bè quốc tế luôn đánh giá cao dòng võ này bởi sự kết hợp hoàn hảo giữa khả năng thực chiến biến hóa và giá trị dưỡng sinh thâm sâu.
Yuen Chai Wan — Nguyễn Tế Công — chính là chiếc cầu nối lịch sử đưa ngọn lửa Vịnh Xuân từ gánh hát Hồng Thuyền và Nguyễn Gia Phủ ở Nam Trung Hoa sang đất Việt. Cuộc đời ông là hình mẫu tiêu biểu cho một bậc chân nhân võ học: lặng lẽ sống, khiêm nhường truyền nghề và để lại một di sản văn hóa võ thuật trường tồn cùng thời gian.
(Nguồn: Sưu tầm)
“Cầm đả hợp nhất”: bắt bẻ khớp để phá thăng bằng rồi đánh dứt điểm, với lực đến từ sóng lưng và hông chứ không từ bắp tay.
Kỹ thuật Cầm Nã Thủ (Chin Na) trong võ thuật nói chung là nghệ thuật bắt, bẻ khớp, chặn gân và bấm huyệt để khống chế đối thủ. Tuy nhiên, khi được tích hợp vào hệ thống Vịnh Xuân dòng Phùng Thiếu Thanh (và truyền sang Nguyễn Tế Công ở Việt Nam), Cầm Nã Thủ đã mang một diện mạo hoàn toàn độc đáo, khác biệt rõ rệt so với Cầm Nã của Thiếu Lâm hay Thái Cực Quyền.

Dưới đây là phân tích chi tiết sự khác biệt về nguyên lý, cự ly và phương thức vận hành:
| Tiêu Chí So Sánh | Cầm Nã Thiếu Lâm | Cầm Nã Thái Cực Quyền | Cầm Nã Vịnh Xuân (Phùng Thiếu Thanh) |
| Nền tảng lực | Dùng cơ bắp, lực vặn xoắn thô, ngón tay cứng (Cương kình) | Dùng vòng tròn âm dương, nhu hóa rồi mới vặn gập (Biến kình) | Dùng xúc giác (Thính kính), thả lỏng tuyệt đối, thốn kình cực ngắn (Nhu kình/Nội kình) |
| Cự ly áp dụng | Trung bình – Rộng (cần không gian để vặn, đòn dài) | Trung bình (nương theo biên độ tròn của tay) | Cực hẹp / Cận chiến (ngay khi hai tay vừa va chạm) |
| Mục đích chính | Khóa chặt, đè bẹp, bẻ gãy khớp đối thủ | Triệt tiêu đòn đánh, hất văng hoặc vật ngã | Bắt dính – Phá cấu trúc – Dứt điểm tức thì (Cầm nã đi kèm Đả) |
| Bản chất động tác | Động tác rõ ràng, biên độ rộng | Động tác cuộn tròn, uốn lượn | Động tác vi mô, gần như “không có hình” (biến hóa trong Niêm thủ) |
Do Phùng Thiếu Thanh là bậc thầy cận vệ triều đình, các đòn Cầm Nã của ông được thiết kế cho tình huống ám sát cận chiến:
Khi Sư tổ Nguyễn Tế Công (đệ tử xuất sắc của Phùng Thiếu Thanh) mang Vĩnh Xuân sang Hà Nội năm 1936, ông đã truyền lại hệ thống Cầm Nã Thủ này cho các đệ tử Việt Nam như danh sư Trần Văn Phùng, Ngô Sĩ Quý, Lê Kim Tuyền…
Kỹ thuật Cầm Nã của Nam Phái tại Việt Nam đặc biệt chú trọng vào:
Cầm Nã Thủ dòng Phùng Thiếu Thanh chính là sự kết hợp giữa tính hiểm hóc của võ thuật Hồng Thuyền và tính thực dụng của công việc cận vệ. Nó không phô trương biên độ như Thiếu Lâm, cũng không quá thiên về mềm mại uốn lượn như Thái Cực, mà mang đặc tính: Nhanh – Nhỏ – Hiểm – Dứt điểm tức thì.
(Nguồn: Sưu tầm)
Người thầy truyền nội công, cầm nã và mộc nhân cho hai anh em Nguyễn Tế Công, Nguyễn Kỳ Sơn tại Nguyễn Gia Phủ, Phật Sơn.
Trong lịch sử truyền thừa Vịnh Xuân Quyền (Wing Chun), nếu như danh sư Lương Tán đại diện cho dòng Vịnh Xuân thương gia thanh nhã tại Phật Sơn, thì Đại sư Phùng Thiếu Thanh (Fung Siu Ching) lại đại diện cho chiều sâu nội gia, tính thực chiến khốc liệt và những tuyệt kỹ của võ học Hồng Thuyền (Red Boat).
Ông chính là chiếc cầu nối đặc biệt đưa hệ thống kỹ pháp cận chiến, cầm nã thủ và nội công thâm sâu của gánh hát Hồng Thuyền truyền sang hai anh em Nguyễn Tế Công (Yuen Chai Wan) và Nguyễn Kỳ Sơn (Yuen Kay Shan) — đặt nền móng vững chắc cho sự đời của Vĩnh Xuân Nam Phái tại Việt Nam cũng như dòng Vịnh Xuân Quảng Châu.
Đại sư Phùng Thiếu Thanh sinh năm 1845 tại Thuận Đức, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ông lớn lên trong giai đoạn triều đình nhà Thanh đối mặt với nhiều biến động chính trị nội bộ và sự trỗi dậy của các hắc hội, nghĩa quân phản Thanh.
Nguồn gốc võ học của Phùng Thiếu Thanh gắn liền với thuyền đỏ Hồng Thuyền — căn cứ lưu động của các nghệ sĩ kiêm nghĩa sĩ. Ông bái Đại sư Bốc Đẩu (Bok Chau) — một trong những nhân vật trụ cột nắm giữ kỹ thuật Vịnh Xuân nguyên bản trên gánh hát — làm sư phụ.
Dưới sự chỉ dạy của Bốc Đẩu, Phùng Thiếu Thanh không chỉ làm chủ các bài quyền tay không (Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ) mà còn đặc biệt tinh thông:
Nhờ trình độ võ công xuất thần và khả năng thực chiến siêu việt, Phùng Thiếu Thanh được tuyển chọn làm cận vệ kiêm Bộc đầu (Trưởng nhóm bảo vệ) cho Tứ Xuyên Tổng đốc (Tài chính & Quân sự triều đình nhà Thanh).
Bốc Đẩu (Hồng Thuyền Vịnh Xuân)
│
▼
PHÙNG THIẾU THANH
(Cận vệ Phủ Tổng đốc Tứ Xuyên - Cầm nã & Nội công)
│
┌────────────────┴────────────────┐
▼ ▼
Yuen Chai Wan (Nguyễn Tế Công) Yuen Kay Shan (Nguyễn Kỳ Sơn)
(Truyền sang Việt Nam - Nam Phái) (Phát triển dòng Quảng Châu) Khác với các võ sư chỉ giảng dạy trong võ đường, môi trường làm việc của Phùng Thiếu Thanh là sự sinh tử cận kề: bảo vệ quan chức triều đình trước các cuộc ám sát của sát thủ, nghĩa quân và tội phạm.
Chính bối cảnh này đã nhào nặn nên phong cách võ thuật đặc trưng của ông:
Sau khi triều đại nhà Thanh suy yếu và Tổng đốc qua đời, Phùng Thiếu Thanh quy ẩn và trở về Quảng Đông khi đã ở tuổi xế chiều. Lúc này, ông sống khá khép kín và không có ý định mở trường thu đệ tử.
Tuy nhiên, gia đình thương gia giàu có họ Nguyễn (Yuen) tại Phật Sơn — vốn đã mời danh sư Hoắc Bảo Toàn (Huo Boquan) về dạy cho hai con trai là Nguyễn Tế Công và Nguyễn Kỳ Sơn — đã biết đến danh tiếng của Phùng Thiếu Thanh.
Sự xuất hiện của Phùng Thiếu Thanh đã hoàn thiện “mảnh ghép nội gia” cho võ học của Nguyễn Tế Công (Sư tổ Vĩnh Xuân Nam Phái sau này):
Đại sư Phùng Thiếu Thanh qua đời tại Quảng Đông vào khoảng đầu thế kỷ XX, nhưng di sản võ học ông để lại có ý nghĩa quyết định đối với hai chi phái Vịnh Xuân lớn:
Đại sư Phùng Thiếu Thanh là hình mẫu của một bậc chân nhân võ học: đi qua bão táp lịch sử từ gánh hát Hồng Thuyền đến chốn triều đình khốc liệt, để rồi cuối đời âm thầm trao lại ngọn lửa tri thức cho thế hệ sau. Bằng sự kết hợp giữa kỹ pháp thực chiến sinh tử và triết lý nội gia dưỡng sinh, tên tuổi của ông luôn được các thế hệ đệ tử Vĩnh Xuân Nam Phái kính cẩn tôn vinh.
(Nguồn: Sưu tầm)
“Khâm Châu Song Dao”, người thầy đầu tiên của anh em Nguyễn Tế Công, nổi tiếng với Bát trảm đao và Lục điểm bán côn.
Trong bảng phả hệ Vịnh Xuân Quyền (Wing Chun), nếu như Đại sư Lương Tán (Leung Jan) được tôn vinh là “Vịnh Xuân Quyền Vương” truyền ra nhánh Phật Sơn Hồng Kông (với Diệp Vấn), thì Hoắc Bảo Toàn (Huo Boquan) cùng với danh sư Phùng Thiếu Thanh (Fung Siu Ching) lại chính là hai cột trụ lịch sử châm ngòi cho sự hình thành của nhánh Vịnh Xuân Quảng Châu và Vĩnh Xuân Nam Phái (Việt Nam).
Dù tên tuổi của Hoắc Bảo Toàn không xuất hiện rầm rộ trên truyền thông hay phim ảnh như Diệp Vấn hay Trần Hua Thuận, nhưng tầm ảnh hưởng của ông đối với võ học Vịnh Xuân là vô cùng thâm sâu. Ông chính là người thầy đầu tiên trao truyền toàn bộ nền tảng võ công cho hai anh em “Phật Sơn Tam Hùng” Nguyễn Tế Công (Yuen Chai Wan) và Nguyễn Kỳ Sơn (Yuen Kay Shan).
Danh sư Hoắc Bảo Toàn sinh sống vào giai đoạn cuối thời nhà Thanh (cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX). Ông xuất thân từ vùng Khâm Châu (Quảng Tây/Quảng Đông thời bấy giờ).
võ học của Hoắc Bảo Toàn kế thừa trực tiếp từ dòng Hồng Thuyền Vịnh Xuân Quyền (Red Boat Wing Chun):
Đầu thế kỷ XX, gia đình thương gia giàu có họ Nguyễn (Yuen) tại Phật Sơn — một gia tộc danh gia vọng tộc — muốn tìm kiếm một vị sư phụ kiệt xuất để truyền dạy võ thuật cho hai người con trai là Yuen Chai Wan (Nguyễn Tế Công) và Yuen Kay Shan (Nguyễn Kỳ Sơn).
Nhờ sự giới thiệu và vị thế của gia đình, cha của hai anh em họ Yuen đã dùng một lượng vàng và tiền tài rất lớn để mời Hoắc Bảo Toàn về gia phủ tại Phật Sơn làm gia sư riêng.
Đại Hoa Diện Cẩm (Hồng Thuyền)
│
▼
HOẮC BẢO TOÀN
(Bậc thầy Bát Trảm Dao & Côn)
│
┌────────────────┴────────────────┐
▼ ▼
Yuen Chai Wan (Nguyễn Tế Công) Yuen Kay Shan (Nguyễn Kỳ Sơn)
(Truyền sang Việt Nam - Nam Phái) (Trụ cột Vịnh Xuân Quảng Châu)
│ │
▼ ▼
Vĩnh Xuân Nam Phái Nhánh Cầm Năng (Sâm Năng) Không giống như nhánh Vịnh Xuân Phật Sơn của cụ Lương Tán thiên về tính gọn nhẹ và tối giản, kỹ pháp do Hoắc Bảo Toàn nắm giữ mang đậm dấu ấn của Hồng Thuyền Vịnh Xuân cổ truyền:
Dù Hoắc Bảo Toàn không mở võ đường công khai rộng rãi để thu nhận hàng trăm đệ tử như các võ sư cùng thời, nhưng chất lượng truyền thừa của ông lại cực kỳ đồ sộ thông qua các học trò trực tiếp:
Võ sư Hoắc Bảo Toàn chính là hình mẫu tiêu biểu cho câu nói của giới võ lâm xưa: “Chân truyền nhất cú thoại, giả truyền vạn quyển thư”. Ông sống một cuộc đời âm thầm, không màng danh lợi hay phô trương uy thế, nhưng bằng việc đào tạo ra những đệ tử kiệt xuất như Nguyễn Tế Công và Nguyễn Kỳ Sơn, tên tuổi của ông đã vĩnh viễn ghi danh trong lịch sử Vịnh Xuân Quyền thế giới.
(Nguồn: Sưu tầm)
Truyền thuyết về vị ni sư trong “Thiếu Lâm Ngũ Tổ”, cuộc chiến Xà và Hạc, và cô gái bán đậu phụ Nghiêm Vĩnh Xuân, người cho môn võ cái tên.
Câu chuyện về Ngũ Mai Sư Thái (Ng Mui Si Tai) là một trong những huyền thoại đẹp nhất và quan trọng nhất của võ lâm phương Nam, đặc biệt là với môn phái Vĩnh Xuân Quyền. Dưới góc độ nghiên cứu võ thuật, câu chuyện này không chỉ là truyền thuyết mà còn chứa đựng những triết lý sâu sắc về sự hình thành của “Nhu quyền”.
Dưới đây là những tình tiết chính trong cuộc đời bà:
Theo truyền thuyết dân gian, Ngũ Mai Sư Thái là con gái của một vị đại thần triều nhà Thanh. Sau khi gia đình gặp biến cố, bà xuất gia và trở thành một trong Thiếu Lâm Ngũ Tổ – năm vị cao thủ sống sót sau khi chùa Thiếu Lâm bị hỏa hoạn (cùng với Chí Thiện Thiền sư, Miêu Hiển, Phùng Đạo Đức và Bạch Mi Đạo Nhân).
Bà được mô tả là người duy nhất trong năm vị có xu hướng nghiên cứu về các kỹ thuật dựa trên sự tinh tế, tốc độ và trí tuệ thay vì sức mạnh cơ bắp thuần túy.
Đây là bước ngoặt quan trọng nhất dẫn đến sự ra đời của Vĩnh Xuân. Khi lánh nạn tại vùng núi Đại Lương (biên giới giữa Vân Nam và Tứ Xuyên), bà đã chứng kiến một cuộc chiến giữa hai loài vật. Có hai thuyết phổ biến:

Từ sự quan sát này, bà nhận ra rằng: Không cần quá mạnh để chiến thắng kẻ mạnh. Bà đã kết hợp những nguyên lý này với tinh hoa võ học Thiếu Lâm sẵn có để tạo nên một hệ thống võ học mới: lấy sự thả lỏng, tốc độ và việc kiểm soát “trung tuyến” làm gốc.
Câu chuyện nổi tiếng nhất về bà chính là việc giúp đỡ cô gái trẻ Nghiêm Vĩnh Xuân.

Về sau, Nghiêm Vĩnh Xuân truyền lại võ công cho chồng là Lương Bác Trù, và ông đã đặt tên cho môn võ này là Vĩnh Xuân Quyền để ghi nhớ công lao của vợ và sư tổ Ngũ Mai.
Trong giới nghiên cứu, hình tượng Ngũ Mai Sư Thái mang ba ý nghĩa biểu tượng lớn:
Dù thực tế lịch sử có thể có nhiều dị bản, nhưng hình tượng Ngũ Mai Sư Thái vẫn mãi là nguồn cảm hứng bất tận, biểu tượng cho sự thông tuệ và bản lĩnh của những người khai phá võ học phương Nam.
(Nguồn: sưu tầm)
Quan điểm của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trong cuốn “Võ dưỡng sinh”: tự điều chỉnh cơ thể, cột sống dẻo dai, hơi thở chậm giúp dễ ngủ.
Theo quan điểm của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trong cuốn sách “Võ dưỡng sinh”, tác dụng toàn diện về chăm sóc sức khỏe và chống suy thoái, lão hóa cơ thể được thể hiện qua một quá trình rèn luyện đồng bộ từ thể chất đến tinh thần.
Dưới đây là những tác dụng toàn diện nổi bật:
Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, sức khỏe tốt đồng nghĩa với việc cơ thể có một cơ chế điều chỉnh tốt.
Võ dưỡng sinh là phương pháp “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, mang lại hiệu quả trị liệu rõ rệt:
Quá trình lão hóa thường đi kèm với sự cứng nhắc và đau mỏi xương khớp. Võ dưỡng sinh giúp khắc phục điều này thông qua nghệ thuật vận động:
Thần kinh mệt mỏi là nguyên nhân làm giảm năng suất và gây lão hóa nhanh. Võ dưỡng sinh sử dụng cơ chế liên hoàn Thân – Tâm để bảo vệ não bộ:
Không chỉ dành cho người bệnh, Võ dưỡng sinh chăm sóc sức khỏe cho mọi người:
Tóm lại, quá trình tập luyện Võ dưỡng sinh lâu ngày không chỉ rèn luyện về mặt cơ bắp hay nội tạng, mà là một quá trình “tu luyện” biến đổi toàn diện con người. Nó giúp cơ thể trở nên bền bỉ, không sợ nắng mưa, tinh thần luôn tỉnh táo, sáng suốt, giữ được sự thanh thoát và làm chủ bản thân trong mọi tình huống của tuổi tác hay cuộc sống.
Học võ để làm phúc, giáo dục để người học tự giác, và “người biết thua thì không chết”: chân dung một quyền sư trí thức.
Dựa trên cuốn “Quyền sư” của tác giả Trần Việt Trung, Thầy Ngô Sỹ Quý hiện lên không chỉ là một cao thủ Vịnh Xuân Quyền mà còn là một nhà giáo dục, một trí thức với tư tưởng tân tiến. Triết lý của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo học phương Đông, tinh thần khoa học phương Tây và nhân sinh quan của một người lính, người thầy.
Dưới đây là những điểm cốt lõi trong triết lý giáo dục và tư tưởng võ học của Thầy Ngô Sỹ Quý:
Khác với lối dạy võ truyền thống kiểu “cha truyền con nối” hay sự nghiêm khắc cứng nhắc, Thầy Quý áp dụng tư duy sư phạm hiện đại vào việc dạy người và dạy võ.
• Giáo dục đa thuật (Nghệ thuật giáo dục): Khi còn là giáo viên tại Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), Thầy quan niệm phương pháp sư phạm không được rập khuôn. Đối với những học sinh cá biệt, ngỗ ngược (như cậu học sinh người dân tộc thiểu số giỏi võ nhưng hay bắt nạt bạn bè), Thầy không dùng kỷ luật hành chính mà dùng chính sở trường của học trò để thu phục. Thầy đã chấp nhận thách đấu để dạy cho học trò bài học về sự “cao cường” thực sự, từ đó khiến học trò tâm phục khẩu phục mà thay đổi tính nết.
• Đào tạo toàn diện: Thầy cho rằng con người hiện đại phải được đào tạo cả về trí tuệ, khả năng nhận trách nhiệm sáng tạo và sức khỏe. Giáo dục chân tay (thể chất) không được tách rời giáo dục trí óc.
• Tính tự giác và “Tu thân”: Thầy nhấn mạnh giáo dục phải để người ta tự giác. “Bắt người ta tự giác mà làm cho người ta hiểu đâu là phải đâu là trái, đâu là đúng là sai” mới là giáo dục chân chính.
Thầy Ngô Sỹ Quý là người tiên phong trong việc đưa Vịnh Xuân Quyền thoát khỏi sự thần bí hóa, hướng tới việc giải thích võ thuật dưới ánh sáng của khoa học và y lý.
• Võ thuật là khoa học: Thầy cùng với các trí thức lớn như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện và giáo sư Tô Như Khuê đã dày công nghiên cứu để hệ thống hóa kiến thức võ học cổ truyền. Thầy chủ trương tìm ra phương pháp giáo dục kết hợp kiến thức cổ truyền và hiện đại, vượt ra ngoài khuôn khổ của một môn phái. Ông nhìn nhận các động tác võ thuật dưới góc độ sinh lý học, cơ học và khí công dưỡng sinh.
• “Học võ là để làm phúc”: Đây là tôn chỉ cao nhất trong tư tưởng của Thầy. Thầy thường nói: “Học phái này có thể làm Phúc được”. Võ thuật không phải để tranh đấu hơn thua mà để cứu người, chữa bệnh và giúp đời. Dòng sông võ thuật dù lớn hay nhỏ cuối cùng cũng phải đổ ra biển lớn là sự hữu ích cho xã hội.
• Võ – Y – Lý đồng nguyên: Thầy kết hợp chặt chẽ giữa Võ thuật và Y thuật (nhất là Đông y). Kiến thức võ học giúp Thầy hiểu sâu về cơ thể người, từ đó áp dụng vào việc chữa bệnh (như nắn chỉnh xương khớp, day bấm huyệt). Thầy Thiên Tích (một danh y và là bạn vong niên của Thầy) đã từng ca ngợi khả năng cảm nhận mạch và khí của Thầy Quý rất tinh tế nhờ quá trình luyện võ.
Tư tưởng võ học của Thầy Quý chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Cụ Tế Công nhưng được phát triển thêm một bước về mặt lý luận:
• Linh giác: Thầy đề cao việc luyện tập để đạt đến “Linh giác” – khả năng cảm nhận tinh tế sự vận động của đối phương và môi trường xung quanh mà không cần quan sát bằng mắt thường. Đây là đỉnh cao của sự phản xạ tự nhiên.
• Sự mềm mại và Thích ứng: Vốn là người yêu âm nhạc và chơi đàn violon, võ thuật của Thầy Quý mang đậm tính nghệ thuật, mềm mại nhưng uy lực. Thầy ví võ thuật như nước, luôn vận động, len lỏi và thích nghi với mọi hoàn cảnh (“Thẩm thấu” và “Dòng chảy”).
• Quân tử vô sở tranh: Thầy dạy học trò: “Người biết thua thì không chết”. Tư tưởng này tiếp nối triết lý “Tiên trách kỷ” của Cụ Tế Công, dạy người học võ biết khiêm nhường, biết mình biết người, tránh những cuộc tranh đoạt vô nghĩa để bảo toàn sinh mệnh và phẩm giá.
Tóm lại, Thầy Ngô Sỹ Quý đại diện cho thế hệ “Quyền sư” trí thức, người đã chuyển hóa võ thuật từ kỹ năng chiến đấu sinh tồn của giang hồ (thời Cụ Tế Công) thành một bộ môn khoa học dưỡng sinh, một nghệ thuật sống và một phương tiện giáo dục nhân cách con người trong xã hội hiện đại.
Từ tài liệu của GS Tô Như Khuê về tác dụng dưỡng sinh của nhu quyền: thể lực, hô hấp, tim mạch, cảm giác vận động và tinh thần.
Dựa trên tài liệu nghiên cứu “Tìm hiểu tác dụng dưỡng sinh của võ thuật” của Giáo sư Tô Như Khuê, võ thuật (đặc biệt là các môn phái nhu quyền như Thái Cực Quyền và Vĩnh Xuân Quyền) giúp cải thiện sức khỏe toàn diện thông qua cơ chế kết hợp giữa vận động (ngoại công) và luyện khí/tinh thần (nội công).
Dưới đây là các tác động cụ thể đối với thể chất và tâm thần:
Võ thuật không chỉ rèn luyện cơ bắp mà còn tối ưu hóa các chức năng sinh lý bên trong:
• Nâng cao thể lực và khả năng lao động: Các võ sinh luyện tập lâu năm có khả năng lao động thể lực rất cao, xấp xỉ mức vận động viên cao cấp và cao hơn hẳn người bình thường hoặc bộ đội thông thường.
• Tối ưu hóa hệ hô hấp: Thông qua phương pháp thở sâu và chậm (như kiểu thở khí công KC-84), người tập tăng cường hệ số sử dụng ôxi và thông khí hữu hiệu, giúp quá trình chuyển hóa năng lượng (“luyện tinh thành khí”) diễn ra thuận lợi, giảm thiểu chất độc hại trung gian.
• Cải thiện hệ tim mạch: Luyện tập giúp ổn định nhịp tim và huyết áp,. Đặc biệt, nó làm giảm tốc độ truyền sóng động mạch, chứng tỏ thành mạch máu duy trì được độ đàn hồi tốt, ngăn ngừa xơ cứng. Ngoài ra, luyện tập còn giúp cải thiện tuần hoàn não, tăng lượng máu lên não.
• Phát triển “linh giác” (Cảm giác vận động): Võ thuật rèn luyện độ nhạy cảm của cơ khớp (cảm giác bản thể) cao hơn hẳn so với người bình thường và cả bộ đội đặc công, giúp cơ thể phản ứng chính xác và linh hoạt.
Võ thuật tác động mạnh mẽ đến hệ thần kinh, tạo ra trạng thái cân bằng giữa ức chế và hưng phấn:
• Giảm căng thẳng (Stress) và ổn định thần kinh: Luyện tập giúp ổn định trương lực của hệ thần kinh thực vật, giảm các trạng thái căng thẳng cảm xúc,. Phương pháp này tạo ra trạng thái “nghỉ ngơi tích cực” cho não bộ.
• Tăng cường sự tỉnh táo và tập trung: Kết quả điện não đồ (ĐNĐ) cho thấy sau khi tập, nhịp Alpha (biểu hiện của sự thư thái nhưng tỉnh táo) tăng lên rõ rệt về biên độ và chỉ số, thay thế cho các dạng sóng mệt mỏi hoặc căng thẳng,,.
• Xử lý thông tin nhanh nhạy: Luyện tập giúp tăng tốc độ xử lý thông tin của não bộ và rút ngắn thời gian phản xạ, giúp con người minh mẫn và linh hoạt hơn trong công việc trí óc,.
• Tạo tâm lý tích cực: Quá trình tập luyện mang lại tinh thần sảng khoái, lạc quan, giúp đẩy lùi các bệnh tâm căn như suy nhược thần kinh,.
Sự cải thiện này đạt được nhờ nguyên lý “Thân tâm nhất như” (cơ thể và tinh thần là một) của võ thuật dưỡng sinh:
• Kết hợp Động và Tĩnh: Trong lúc vận động (động) vẫn giữ tâm trí bình tĩnh (tĩnh), và trong lúc ngồi yên (tĩnh) vẫn vận khí (động).
• Điều khí: Sử dụng ý thức để điều khiển hơi thở (khí công), từ đó điều hòa hoạt động của các cơ quan nội tạng và hệ thần kinh.
Tóm lại, võ thuật theo hướng dưỡng sinh giúp con người đạt được trạng thái sức khỏe tối ưu: cơ thể dẻo dai, khí lực dồi dào, tinh thần minh mẫn và làm chủ được bản thân trước các áp lực của cuộc sống.
Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc không phải mô phỏng loài vật, mà là cách vận hành Khí và Lực. Nếu ba bài cơ bản là khung xương, Ngũ hình là linh hồn.
Khi nhắc đến Vĩnh Xuân Quyền, phần lớn thế giới nghĩ ngay đến 3 bài quyền cơ bản: Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều và Tiêu Chỉ. Tuy nhiên, trong dòng Vĩnh Xuân Quyền Việt Nam do Sư tổ Nguyễn Tế Công truyền dạy, có một kho tàng vô cùng quý giá mà ít dòng phái khác còn giữ được trọn vẹn, đó chính là Ngũ Hình Quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc).

Chúng ta hãy phân tích Ngũ Hình Quyền không phải dưới góc độ “múa cho giống con vật”, mà dưới góc độ Tâm pháp, Kình lực và Chiến thuật trong thực chiến đỉnh cao của Vĩnh Xuân Việt Nam.
Nhiều người thắc mắc: “Vĩnh Xuân là môn khoa học, tối giản động tác, tại sao lại tập bắt chước loài vật rườm rà?”.
Câu trả lời là: Ngũ Hình trong Vĩnh Xuân Nguyễn Tế Công không phải là sự mô phỏng hình dáng bên ngoài (Hữu hình), mà là sự đúc kết tinh hoa về cách vận hành Khí và Lực (Vô hình) của loài vật đó.
Mục đích cuối cùng là đạt đến “Ngũ hình hợp nhất” – trong một đòn đánh có đủ sự uy nghi của Rồng, sự mềm dẻo của Rắn, sức mạnh của Hổ, tốc độ của Báo và sự thăng bằng của Hạc.
Chúng ta hãy đi sâu vào từng “Hình” để thấy sự ảo diệu trong cách Sư tổ Nguyễn Tế Công truyền dạy.

Rồng là con vật linh thiêng, không có thực, đại diện cho sự biến hóa khôn lường và quyền uy.

Rắn đại diện cho cực Âm, sự mềm mại tối thượng (Chí nhu).

Hổ đại diện cho cực Dương, sức mạnh cơ bắp và sự dũng mãnh (Chí cương).

Khác với Hổ dùng sức mạnh đè nén, Báo dùng tốc độ và sự lanh lợi.

Hạc đại diện cho sự thanh cao, tĩnh tại và thăng bằng tuyệt đối.
Điều làm nên sự đặc biệt của Vĩnh Xuân Nguyễn Tế Công là không tách rời 5 hình này. Một cao thủ không đánh chỉ bằng Hổ hay chỉ bằng Rắn.
Họ vận dụng theo nguyên tắc Âm Dương tương tế, Ngũ Hành tương sinh:
Trong Cương có Nhu, trong Nhu có Cương. Khi cần mạnh thì là Hổ, khi cần luồn lách thì là Rắn, khi di chuyển thì như Hạc, khi ra đòn thì nhanh như Báo, và tất cả được vận hành bởi cái Thần của Rồng.
Ví dụ thực tế: Khi đối thủ đấm mạnh vào mặt bạn:
Tất cả diễn ra trong một giây, dưới sự chỉ huy thống nhất của Long (cơ thể và ý niệm).
Ngũ Hình Quyền trong Vĩnh Xuân Việt Nam dòng Sư tổ Nguyễn Tế Công là một di sản võ học vô giá. Nó không phải là những bài múa đẹp mắt, mà là những chìa khóa để mở cánh cửa vào thế giới nội công và chiến đấu thực sự. Học Ngũ Hình là học cách làm chủ cơ thể và tinh thần của chính mình ở mức độ cao nhất.
(Nguồn: sưu tầm)
Bảy yếu tố phải cùng “đến” khi phát lực, và tám nguyên tắc vận lực khi tương tác với đối thủ.

Đây là 2 khái niệm cốt tủy, đặc biệt phổ biến trong dòng Vĩnh Xuân Quyền Việt Nam (chịu ảnh hưởng lớn từ Sư tổ Nguyễn Tế Công).
Nếu coi các bài quyền (như Thủ Đầu Quyền) là “khung xương”, thì Thất đáo và Bát pháp chính là “linh hồn” và “nguyên lý vận hành” để biến kỹ thuật thành thực chiến.
Dưới đây là sự phân tích chi tiết về hai khái niệm này.
“Đáo” có nghĩa là “đến nơi”, là đạt được sự trọn vẹn. Thất đáo là yêu cầu về sự hợp nhất của 7 yếu tố trên cơ thể và tinh thần tại cùng một thời điểm khi phát lực hoặc xử lý tình huống. Nếu thiếu một trong bảy, đòn đánh sẽ mất đi uy lực thực sự.
Danh sách Thất đáo thường bao gồm:
Tóm lại: Một đòn đánh Vĩnh Xuân hoàn hảo là khi: Mắt thấy, Ý định, Chân bước, Thân xoay, Hơi thở nén, Tay chạm và Lực phát nổ cùng một lúc.
Nếu Thất đáo là sự thống nhất nội tại, thì Bát pháp là các phương pháp chiến thuật và cách dùng lực để tương tác với đối thủ. Đây là chìa khóa để “lấy nhu khắc cương”.
Bát pháp bao gồm 8 chữ:
| Nguyên tắc | Ý nghĩa và Ứng dụng |
| 1. Thông | Làm thông thoáng, mở đường. Khi đường đánh bị tắc, dùng lực “Thông” để xuyên qua hoặc dọn đường cho đòn tấn công tiếp theo. |
| 2. Đột | Đột ngột, bất ngờ. Đòn đánh phải nhanh, gọn, nổ lực trong cự ly ngắn (đoản kình) khiến đối phương không kịp phản ứng. |
| 3. Tản | Tản ra, làm chệch hướng. Dùng để hóa giải lực tấn công mạnh của đối phương (như kỹ thuật Bàng thủ – Bong Sao), không đối đầu trực diện mà mượn lực làm lệch đi. |
| 4. Kiệt | Ngăn chặn, cắt đứt. Chặn đứng đòn đánh của đối phương ngay từ khi nó mới khởi phát (Triệt quyền) hoặc làm gãy cầu nối lực của họ. |
| 5. Áp | Áp sát, đè nén. Dùng cấu trúc và vị trí thuận lợi để gây áp lực liên tục lên trung tâm của đối thủ, không cho họ không gian xoay trở. |
| 6. Bách | Bức bách, dồn ép. Tấn công dồn dập, buộc đối phương phải lùi hoặc rơi vào thế bị động, rối loạn đội hình. |
| 7. Trừu | Rút, kéo, giật. Dùng lực giật về (như Lạp thủ – Lap Sao) để làm mất thăng bằng đối phương, tạo khoảng trống để tấn công. |
| 8. Đạn | Đàn hồi, bật nảy. Lực của Vĩnh Xuân như lò xo. Khi bị nén lại thì bật ra ngay lập tức với sức mạnh lớn hơn (mượn lực phản lực). |
Để trở thành cao thủ Vĩnh Xuân, bạn không thể tách rời hai khái niệm này:
Ví dụ thực tế: Khi đối thủ đấm thẳng vào mặt bạn.
(Nguồn: sưu tầm)
Ít động tác thừa, đánh theo đường trung tâm, lực từ toàn thân chứ không từ cơ bắp: vì sao Vĩnh Xuân hợp với mọi thể trạng.
Vĩnh Xuân Quyền nổi bật với triết lý đề cao sự hiệu quả và đơn giản trong từng động tác. Điều này không phải ngẫu nhiên mà xuất phát từ những nguyên lý sâu xa và mục đích thực chiến của môn phái. Dưới đây là những lý do chính:
Trong một cuộc đối kháng thực tế, mỗi giây đều quý giá. Các động tác phức tạp, cầu kỳ sẽ tốn nhiều thời gian và năng lượng để thực hiện, dễ khiến võ sinh bị đối thủ khai thác sơ hở. Vĩnh Xuân tập trung vào các động tác trực diện, ngắn gọn và ít cử động thừa, giúp người luyện có thể phản ứng và ra đòn gần như tức thì.
Vĩnh Xuân không chú trọng vào sức mạnh cơ bắp tuyệt đối mà tập trung vào việc sử dụng cấu trúc cơ thể và nguyên lý vật lý để tạo ra lực tối đa với nỗ lực tối thiểu.
Sự đơn giản trong động tác giúp Vĩnh Xuân trở nên dễ tiếp cận và luyện tập cho mọi đối tượng, không phân biệt thể trạng hay giới tính.
Khi các động tác được đơn giản hóa, võ sinh có thể tập trung vào việc phát triển cảm giác và phản xạ nhạy bén, đặc biệt thông qua bài tập dính tay.
Tóm lại, sự ưu tiên vào hiệu quả và đơn giản trong Vĩnh Xuân Quyền không chỉ là một đặc điểm kỹ thuật mà còn là một triết lý chiến đấu và rèn luyện, giúp võ sinh đạt được sự tinh thông và ứng dụng tối đa trong mọi tình huống.
Con người ta ai cũng phải tuân theo quy luật “sinh, lão, bệnh, tử” của tạo hóa.
Con người ta ai cũng phải tuân theo quy luật “sinh, lão, bệnh, tử” của tạo hóa. Tuy nhiên, nhân loại luôn tìm hiểu về những quy luật của tự nhiên để thích ứng và cải tạo tự nhiên để đạt được mục đích giảm thiểu hoặc tránh phát sinh bệnh tật, tạo trạng thái tốt nhất cả về tinh thần lẫn thể chất, âm dương điều hòa trong quá trình hoạt động sống của cơ thể, làm chậm quá trình lão hóa, từ đó kéo dài tuổi thọ.

Bí quyết để đạt được trường thọ bao gồm các chế độ sinh hoạt luyện tập dưỡng sinh đã được Đại danh y Tuệ Tĩnh tóm lược như sau:
“Bế tinh dưỡng khí tồn thần
Thanh tâm quả dục thủ chân luyện hình”
Bế tinh nghĩa là phải duy trì sinh hoạt tình dục một cách điều độ, không nên hao phí tinh cho chuyện tình dục nhiều quá. Quan hệ sinh hoạt giữa nam và nữ là bản năng thiên phú, cần thiết để duy trì giống nòi. Sinh hoạt tình dục điều độ không những làm cho cơ thể khỏe mạnh, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định hòa thuận cho gia đình và xã hội. Do sinh hoạt tình dục gây hao tổn thận tinh nên cần thiết phải điều độ. Tinh khí trong thận là nguồn động lực cho hoạt động sống, là gốc rễ của âm dương toàn thân. Tiêu hao quá nhiều sẽ dẫn mệt mỏi, đau lưng, mất ngủ, lão hóa sớm…
Dưỡng khí là phần quan trọng trong dưỡng sinh, tập trung vào việc luyện khí. Người xưa nói: “tập hít thở, thở ra khí cũ, hít vào khí mới, như con gấu vươn thân, con chim vỗ cánh là để sống lâu vậy”. Tập thở giúp cho cơ thể có đủ oxy, trí óc minh mẫn, tăng sức đề kháng chống bệnh. Có nhiều phương pháp luyện thở, trong đó phương pháp thở bốn thì của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng là phổ biến nhất ở Việt Nam:
Thì 1: hít vào đều, sâu, tối đa, ngực nở, bụng phình và cứng. Thời gian 1/4 hơi thở, nghĩ “hít vào bụng nở ngực căng”.
Thì 2: giữ hơi, cơ hoành và các cơ lồng ngực đều co thắt tối đa, thanh quản mở, giơ chân dao động rồi để chân xuống. Thời gian 1/4 hơi thở, nghĩ “giữ hơi cố gắng hít thêm”.
Thì 3: thở ra thoải mái, tự nhiên, không kìm, không thúc. Thời gian 1/4 hơi thở, nghĩ “thở ra không kìm không thúc”.
Thì 4: thư giãn hoàn toàn, có cảm giác nặng và ấm. Tự kỷ ám thị: tay chân tôi nặng và ấm, toàn thân tôi nặng và ấm. Thời gian 1/4 hơi thở, nghĩ “nghỉ thời nặng ấm tay chân”.
Trong kỹ thuật thở này, thời gian của bốn thì phải bằng nhau để lập lại quân bình giữa hưng phấn và ức chế, thì hai rất quan trọng vì nó luyện thần kinh, ý chí làm chủ hơi thở.
Tồn thần là giữ đầu óc nhẹ nhàng, thanh thản, tránh lao tâm quá độ ảnh hưởng đến toàn cơ thể. Để đạt được mục tiêu này cần rèn luyện về ý chí để giữ thăng bằng trong hưng phấn và ức chế. Một trong những cách đó là luyện thư giãn. Khi luyện thư giãn có thể ở tư thế nằm hoặc ngồi nhưng tư thế nằm là tốt nhất. Bắt đầu thư giãn bằng cách ra lệnh thư giãn cho các cơ vân và cơ trơn: đầu óc ta thảnh thơi, không nghĩ gì, rồi ta ra lệnh cho hệ thống thần kinh, động vật và thực vật, các cơ vân, cơ trơn đều buông xuôi hết. Thư giãn hoàn toàn. Nghỉ ngơi hoàn toàn. Ức chế hoàn toàn. Ta thư giãn các cơ vân hoàn toàn thì ta có cảm giác nặng, như cảm giác mí mắt nặng lúc buồn ngủ, ngước không lên. Ta có thể tự kỷ ám thị để giúp thêm cho sự thư giãn: “tay chân tôi nặng và ấm, toàn thân tôi nặng và ấm”. Nên dùng cách tập trung ý nghĩ vào mục tiêu theo dõi hơi thở, thở cho đều, hít vào thở ra, nghỉ, hít vào, thở ra, nghỉ…
Thanh tâm cũng là giữ để tâm trong sáng, không bị vẩn đục, không làm điều đê hèn, đố kỵ, tàn ác, cố chấp, không quá ham chuộng vật ngon của lạ, không quá lo tranh giành, đoạt lợi… Thanh tâm phải tu tâm dưỡng tính, trau dồi đạo đức cao thượng, hành vi thanh nhã thuần khiết. Tâm tĩnh thì thần an, thần an thì khí huyết tạng phủ điều hòa, tà khó xâm phạm, kéo dài tuổi thọ.
Để thanh tâm thì chúng ta phải quả dục, “dục” ở đây tức là lòng ham muốn. Con người ta ai cũng có rất nhiều ham muốn, có những điều ham muốn tốt đẹp, quý báu làm cho người ta có ý chí phấn đấu làm việc: muốn có cơm ăn, áo mặc đầy đủ, học hành đỗ đạt, làm việc thành công, mưu cầu hạnh phúc, làm lợi cho cộng đồng. Những điều nhân bản không thể thiếu được. Song những ham muốn cao xa, quá đáng… thúc giục tìm mọi cách giành giật, khi không được thì gây đau khổ, lo nghĩ, thất vọng, tâm trạng rối bời, mất ăn mất ngủ… “Quả” là ít, là giảm bớt; nghĩa là trừ bỏ những ham muốn xấu để chỉ còn lại những ham muốn chính đáng, lành mạnh.
Mặt khác, tĩnh dưỡng còn quan hệ mật thiết với trạng thái chân khí của cơ thể. Chân khí là tổng hòa từ nhiều yếu tố: khí tiên thiên (mang tính di truyền do bố mẹ truyền cho con), khí hậu thiên (qua sự trao đổi chất, ăn uống và hít thở khí trời). Do đó muốn cho chân khí luôn được đầy đủ thì phải thường xuyên được bổ sung thông qua chế độ ăn uống và luyện thở. Cần ăn đủ chất để giúp cơ thể sinh trưởng phát dục thuận lợi, chống lão hóa, tránh các bệnh do thiếu dinh dưỡng gây ra. Muốn vậy trong khi ăn uống cần kết hợp các thức ăn theo nguyên tắc toàn diện, hợp lý, kết hợp với nhau nhằm đủ chất dinh dưỡng, thăng bằng âm dương. … Ngoài ra, tĩnh dưỡng tàng thần giúp cho chân khí luôn được sung mãn không bị tổn thương, tăng cường sức đề kháng, có lợi cho việc phòng ngừa bệnh tật.
Luyện hình là luyện tập cơ thể thường xuyên để chân khí huyết mạch lưu thông tốt, có tác dụng chống lão hóa. Luyện hình trong dưỡng sinh gồm 3 phần chính: Vận động cơ khớp và tự xoa bóp.
Vận động cơ khớp: Tập theo chức năng của từng bộ phận, từng cơ khớp. Có rất nhiều cách: đi bộ, chạy, bơi, tập thể dục buổi sáng. Các bài tập dưỡng sinh chống xơ cứng rất tốt đối với hệ cơ xương khớp, giúp cơ thể dẻo dai như các bài: chào mặt trời, rắn hổ mang, ưỡn mông, cái cầu, cây cung, ba góc, nẩy bụng…
Tự xoa bóp: thường làm vào buổi sáng trước hoặc sau lúc tập vận động và cũng có thể làm vào buổi tối trước khi đi ngủ. Làm lần lượt các động tác:
Bàn tay: xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm nóng rồi tay này xoa mu tay kia vận động cổ tay và các ngón tay.
Mặt gáy: hai bàn tay áp vào hai má, xát ngược lên trán, đỉnh đầu, sau gáy và vòng ra má và tiếp tục như trên 10 lần.
Đầu tóc: gãi đầu từ phía trước ra sau gáy vòng lại thái dương trở ra phía trước và lần lượt gãi hết diện da đầu. Sau đó dùng móng các ngón tay miết da đầu từ phía trước ra phía sau tựa như chải tóc.
Mắt: xoa vòng quanh hố mắt 10 lần vuốt mí mắt trên từ sống mũi ra ngoài 10 lần. Sau đó đưa ngón tay ra phía trước mắt, nhìn chăm chú vào các ngón tay từ từ ra xa, lại đưa tay gần gốc mũi làm 10 lần.
Tai: vuốt vành tai 10 lần, sau đó dùng gan bàn tay ấn chặt vào tai, đột nhiên bung tay ra làm như thế 10 lần.
Gan bàn tay vẫn bịt chặt lỗ tai, bốn ngón tay bám chặt vào xương chẩm, đưa ngón trỏ lên tựa vào lưng ngón giữa bật mạnh ngón trỏ đập vào xương chẩm (nghe thấy bùng bùng trong tai 5 lần).
Mũi: dùng ngón tay cái hoặc ngón trỏ miết hai bên sống mũi và đỉnh mũi 10 lần.
Răng: hai hàm răng gõ vào nhau từ 10 – 20 lần.
Khi tập phải chú ý kết hợp nhịp thở và tập trung chú ý vào động tác.
TS.BS CK II. Dương Trọng Nghĩa
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Bạn có tin rằng chỉ bằng cách gập và duỗi các ngón tay theo một quy luật đặc biệt, bạn có thể đả thông toàn bộ kinh lạc, tích lũy nội kình và thậm chí có thể phóng khí để hỗ trợ chữa bệnh cho người khác?
Bạn có tin rằng chỉ bằng cách gập và duỗi các ngón tay theo một quy luật đặc biệt, bạn có thể đả thông toàn bộ kinh lạc, tích lũy nội kình và thậm chí có thể phóng khí để hỗ trợ chữa bệnh cho người khác? Đây chính là bí mật của Nội Kình Nhất Chỉ Thiền – môn khí công thượng thặng của chùa Thiếu Lâm Phúc Kiến từng bị giấu kín hàng trăm năm nay!
Bài viết này sẽ giúp bạn tìm hiểu:
Khí công Thiếu Lâm tự có rất nhiều môn phái, nhưng Nội Kình Nhất Chỉ Thiền nổi lên như một công pháp độc đáo bậc nhất. Được truyền dạy bởi Tiên sư Khuyết A Thủy và sau này được đệ tử chân truyền Vương Thụy Đình phổ biến rộng rãi, môn khí công này đã lột bỏ lớp màn thần bí để chứng minh hiệu quả y học rõ ràng thông qua nhiều nghiên cứu khoa học hiện đại.
Ý nghĩa tên gọi:
Một sự thật bất ngờ: Khác biệt hoàn toàn với các môn khí công khác, Nội Kình Nhất Chỉ Thiền không nhấn mạnh việc nhập tịnh (tập trung suy nghĩ) hay thủ ý (tập trung vào một huyệt vị) khi luyện trạm trang. Điều này giúp người mới tập dễ dàng tiếp thu, nhanh chóng “đắc khí” mà hoàn toàn tránh được các tai biến lệch lạc hay tẩu hỏa nhập ma.
Trước khi bước vào trạm trang, người tập cần thực hành Nhiệt Thân Pháp (còn gọi là Đan Điền Công). Đây là hệ thống 9 động tác được tổng kết từ tinh hoa của môn võ Tâm Ý Lục Hợp Quyền, giúp làm mềm dẻo gân cốt, linh hoạt các khớp và kích hoạt chức năng của các cơ quan nội tạng.
Hệ thống 9 động tác Nhiệt Thân Pháp:
Nếu Nhiệt Thân Pháp là bước chuẩn bị thì Mã Bộ Trạm Trang chính là “trúc cơ công” – công pháp xây dựng nền móng cốt lõi cho toàn bộ quá trình luyện tập.
Yêu lĩnh căn chỉnh tư thế trạm trang chuẩn xác:
Lưu ý khi thực hành: Hãy giữ một khuôn mặt tươi tỉnh, thở hoàn toàn tự nhiên và không cần cố gắng tập trung suy nghĩ vào bất kỳ điểm nào. Người mới tập nên bắt đầu với thời gian ngắn và tăng dần lên tối thiểu 30 phút mỗi ngày.
Đây là công pháp đặc sắc và then chốt nhất của Nội Kình Nhất Chỉ Thiền, hầu như không tìm thấy ở các môn phái khác.
Tại sao phương pháp này lại mạnh mẽ đến vậy? Mười ngón tay và mười ngón chân là điểm khởi đầu và kết thúc của 12 đường kinh chính trong cơ thể. Khi bạn gập các ngón tay và nhấn ngón chân một cách có quy luật, bạn sẽ trực tiếp điều chỉnh lưu lượng, vận tốc tuần hoàn của khí huyết và cắt các mạch từ trường sinh học, giúp khơi thông nhanh chóng hai mạch Nhâm và Đốc.
Bộ Ban Chỉ Pháp 1 (Chống già thêm thọ): Sau khi đứng Mã Bộ Trạm Trang từ 10 – 12 phút, bạn giữ tay úp và bắt đầu ban động lần lượt từng ngón theo thứ tự nghiêm ngặt sau:
Cách thực hiện: Gập ngón tay từ từ xuống bằng khớp bàn tay (các khớp ngón vẫn duỗi thẳng), dừng lại giữ từ 1.5 – 2 phút, sau đó từ từ nâng lên vị trí cũ. Khi gập ngón tay nào thì cố gắng bấm ngón chân tương ứng của ngón đó xuống đất.
Để phát triển khả năng ứng dụng lâm sàng và tích lũy năng lượng mạnh mẽ hơn, người tập cần chuyển sang phần Động công và Điều khí. Đây là bước chuyển từ tĩnh sang động giúp rèn luyện khả năng “ngoại khí nội thu” (thu khí từ ngoài vào) và “nội khí ngoại phóng” (phóng khí ra ngoài).
Các bài tập Động công & Điều khí tiêu biểu:
Thu Công Pháp – Bước bảo hiểm quan trọng: Khi kết thúc buổi tập, tuyệt đối không được dừng đột ngột mà phải thực hiện thu thế để dẫn khí về huyệt Dũng Tuyền ở bàn chân. Động tác Lôi thanh (hét âm “Ý!” kết hợp giậm chân, đập tay) giúp lục phủ ngũ tạng rung động nhẹ, tránh tình trạng khí bị tắc nghẽn trong người gây đau mỏi, khó chịu.
Bảo Kiện Công là một phần tương đối độc lập, gồm 13 động tác tự xoa bóp vùng đầu mặt, đặc biệt phù hợp với người làm việc trí óc hoặc văn phòng mệt mỏi.
Bằng cách dùng các huyệt vị ở lòng bàn tay (Lao cung, Ngư tế) tác động lên các giác quan, bạn sẽ khơi thông được các đường kinh dương hội tụ ở đầu, giúp đầu óc tỉnh táo, mắt sáng, tai thính, răng khỏe.
Một số thức tiêu biểu trong 13 thức Bảo kiện:
Luyện khí công là một hành trình rèn luyện bền bỉ đòi hỏi sự nghiêm túc và khoa học. Dưới đây là những nguyên tắc cốt lõi bạn cần tuân thủ:
Các hiện tượng bình thường khi luyện tập: Nấc, trung tiện (đang thải bệnh khí ra ngoài); sôi bụng (chân khí đang vận hành); cơ thể tỏa ra mùi hôi, mùi đất mục hoặc mùi thơm nhẹ (quá trình đào thải tà khí của tạng phủ).
Những điểm cốt lõi cần nhớ từ giáo trình sơ cấp:
(Nguồn: Từ cuốn sách “Thiếu Lâm khí công Nội kình Nhất chỉ thiền (Sơ cấp)” của tác giả Khuyết A Thủy – Vương Thụy Đình)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Bạn có tin rằng một người có thể chữa lành vết thương, giảm đau, hoặc thậm chí điều khiển cử động của người khác từ xa mà không cần chạm vào cơ thể?
Bạn có tin rằng một người có thể chữa lành vết thương, giảm đau, hoặc thậm chí điều khiển cử động của người khác từ xa mà không cần chạm vào cơ thể? Đó không phải là phép thuật huyền bí, mà là năng lượng thực tế của Nội Khí Ngoại Phóng được rèn luyện qua môn phái Thiếu Lâm Khí Công Nội Kình Nhất Chỉ Thiền.
Học phần cao cấp này không chỉ giúp bạn nâng cao sức khỏe bản thân mà còn mở ra cánh cửa thấu hiểu năng lượng sinh học của con người dưới góc nhìn khoa học hiện đại. Qua bài viết này, bạn sẽ đạt được các mục tiêu sau:
Nhiều người thường coi nhẹ các động tác chuẩn bị và tập qua loa cho xong chuyện. Tuy nhiên, trong Khí công cao cấp, Nhiệt Thân Pháp đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Ý nghĩa của nó được khái quát bằng 4 câu: “Hoạt lạc quan tiết, sơ kinh hoạt huyết, án ma nội tạng, bình bí âm dương” (Làm linh hoạt các khớp, khơi thông kinh lạc, lưu thông huyết mạch, xoa bóp nội tạng để cân bằng âm dương).
Nhiệt Thân Pháp dựa vào các động tác đặc biệt để điều chỉnh tuần tự chức năng sinh lý của cơ thể, giúp gân cốt mềm mại và các khớp thông thoát trước khi bước vào tập luyện chính thức. Các bài tập chính bao gồm:
Internal_Power_BlueprintTải xuống
Tại sao tư thế đứng tấn (Trạm Trang) lại có thể chữa trị được các bệnh hiểm nghèo như van tim, nhồi máu cơ tim, cao huyết áp, xơ cứng động mạch não hay tai biến?
Một sự thật thú vị: Tại Thiếu Lâm Tự, dấu tích luyện trạm trang qua nhiều thế hệ vẫn còn in rõ dưới dạng những vết chân lõm sâu trên nền gạch của nội sảnh!
Người xưa có câu “Thập chỉ liên tâm” (Mười ngón tay liên kết với tim). Trong Khí công, hệ thống kinh lạc giống như cái ổ khóa, còn mười ngón tay và ngón chân chính là chiếc chìa khóa để mở.
Khi thực hiện Bộ ban chỉ pháp, người tập đứng Mã bộ trạm trang, hai tay duỗi thẳng úp xuống, rồi từ từ gập và nâng từng ngón tay theo thứ tự nghiêm ngặt. Khi ép ngón tay xuống, đồng thời phải ấn ngón chân tương ứng để tạo vòng tuần hoàn khép kín Âm – Dương chạy khắp cơ thể.
Thứ tự và cơ chế tác động của Ban Chỉ:
Bên cạnh Mã bộ trạm trang, giáo trình cao cấp giới thiệu các tư thế đứng tấn đặc biệt mô phỏng theo muông thú và tượng Phật nhằm tích trữ năng lượng cao hơn:
Làm thế nào để một khí công sư duy trì được nguồn năng lượng dồi dào mà không bị kiệt quệ khi chữa bệnh cho người khác? Câu trả lời nằm ở Thái Khí Pháp (Phương pháp nạp năng lượng từ tự nhiên):
Khoa học hiện đại đã chứng minh “Ngoại khí” do khí công sư phát ra không phải là điều huyền bí, mà thực chất là một dạng vật chất tồn tại khách quan – bao gồm bức xạ hồng ngoại tần số thấp và dòng vi hạt mang điện (điện sinh học).
Một trong những đỉnh cao của Thiếu Lâm Khí Công là Bố Khí Đạo Dẫn Thuật. Khí công sư không cần chạm vào người bệnh, chỉ cần phóng ngoại khí từ xa qua khoảng không vào các huyệt vị của bệnh nhân để kích phát kinh khí, khơi thông kinh lạc.
Ví dụ lâm sàng: Bác sĩ ngoại khoa Quách Khởi Phương bị liệt chân do tai nạn, sau 5 lần được đại sư Vương Thụy Đình chữa trị bằng phát khí từ xa (cách 1 trượng), chân đã giơ lên được và tự đi lại, leo tầng 3 bình thường!
Thiếu Lâm Khí Công Nội Kình Nhất Chỉ Thiền là một di sản y học cổ truyền quý báu, kết hợp hài hòa giữa triết lý Đông y và các hiện tượng vật lý sinh học hiện đại. Dưới đây là những điểm cốt lõi bạn cần ghi nhớ:
(Nguồn: Từ cuốn sách “Thiếu Lâm khí công Nội kình Nhất chỉ thiền (Cao cấp)” của tác giả Khuyết A Thủy – Vương Thụy Đình)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Thế nào là Trạm Trang? Trạm trang: Nghĩa là thân thể đứng yên không động như cọc gỗ (mộc trang), mục đích nhằm đạt được sự vững chãi, có gốc rễ như cọc gỗ, chứ không phải là đứng yên ngây ngốc.
Trạm trang: Nghĩa là thân thể đứng yên không động như cọc gỗ (mộc trang), mục đích nhằm đạt được sự vững chãi, có gốc rễ như cọc gỗ, chứ không phải là đứng yên ngây ngốc. Đây là một bộ phận trọng yếu trong hệ thống võ thuật Trung Quốc. Trong các lưu phái võ thuật qua các đời, nó đều được người tập võ coi trọng, như Mã Bộ Trang, trong Thiếu Lâm võ thuật và một số quyền phái Nam phái, đã được xem như một loại huấn luyện cơ bản. Có câu “Vị tập quyền, tiên trạm tam niên trang” (Chưa học quyền vội, trước hết đứng trang ba năm), trong nội gia quyền, đặc biệt là Hình Ý quyền, có thuyết “Vạn pháp nguyên vu Tam Thể thức” (Muôn pháp đều bắt nguồn từ Tam Thể thức), còn ở một số quyền phái trẻ hơn như Đại Thành quyền, Lô thức kết cấu, thì Trạm Trang còn được đẩy lên địa vị không gì sánh bằng.
Tôi tin rằng mọi người đều đã thấy, đã nghe, thậm chí đã luyện qua Trạm Trang, nhưng phần đông mọi người chỉ biết hình dáng bề ngoài, những hiện tượng bề mặt của nó. Kỳ thực Trạm Trang rất chú trọng đến phần mà mắt chúng ta không nhìn thấy, đó chính là phương pháp. Trạm Trang chủ yếu lấy thân thể trung chính, song thủ bão viên, làm một tư thế đứng. Vì vậy, ở phía dưới tôi sẽ chia sẻ với mọi người cách đứng Trạm Trang, bằng văn tự để giảng giải.
Thập chỉ trảo địa: cái gọi là thập chỉ trảo địa, tức là mười ngón chân khẽ cào xuống mặt đất, nghĩa là khớp của mỗi ngón chân đều hơi cong lại. Nhưng chúng ta thường nói “dụng ý bất dụng lực”, vậy thì chúng ta dùng ý thức để đưa cái kình này, tức là hướng xuống đất mà sinh căn, đâm xuống dưới, giống như cây đại thụ, đem cái rễ này đâm xuống, dùng ý thức của chúng ta, chứ không phải dùng sức lực, cho nên chúng ta cố gắng giữ cho cơ bắp được thả lỏng.
Về việc hai chân hơi cong (vi khúc): Kỳ thực trong quá trình luyện tập Trạm Trang của chúng ta, mỗi một khớp xương trên thân thể đều giữ trạng thái vi khúc (hơi cong). Đối với hai đầu gối, vì chúng kết nối với hạ tiêu của chúng ta, nên đầu gối được tách riêng ra để nói về song thối vi khúc (không được cong vượt quá mũi chân). Cái gọi là vi khúc, tức là trên cơ sở đứng thẳng, hơi cong một chút, nghĩa là giữ một trạng thái hơi cong nhẹ, nó không yêu cầu chúng ta ngồi xuống cúi gập thật sâu, nhưng cũng không được duỗi thẳng. Khi chúng ta đứng chân rất thẳng; hoặc khi chúng ta ngồi cúi quá cong, thì xương cốt ở một mức độ nhất định sẽ ảnh hưởng đến mao mạch của chúng ta, ảnh hưởng đến sự vận hành của khí huyết. Vì vậy, trong yếu lĩnh của mỗi động tác, bao gồm cả thập chỉ trảo địa đã nói ở trên, mỗi một khớp xương đều phải giữ trạng thái vi khúc.
Về toạ (ngồi) và khoá (vùng hông): Khoá (vùng hông) chiếm một vị trí vô cùng chủ yếu trên toàn bộ cơ thể chúng ta, bởi vì đoạn giữa của toàn bộ thân thể kết nối với phần chân chủ yếu dựa vào Khoá. Bình thường chúng ta cũng hay nói: “Trung chính an thư” (thân thể ngay thẳng, tâm thái an nhiên thả lỏng). Như vậy, phần thân trên của chúng ta muốn giữ được trung chính, thì khoá không thể lắc lư sang trái xoay sang phải, cho nên phải thực hiện Tọa khoá (ngồi hông). Khoá phải tìm được cảm giác hạ trầm, cảm giác ngồi (tọa), giống như đang ngồi trên một chiếc ghế vậy.
Mà khoá lại là nơi dễ xuất hiện vấn đề nhất: hoặc là hướng về phía trước đẩy ra (tiền đỉnh), hoặc là vểnh ra phía sau (hậu kiều), hoặc là lắc sang trái (tả dao), hoặc là lắc sang phải (hữu bài). Cho nên lực của khoá không thể hướng về bốn phía này, lực của khoá chỉ có thể hướng xuống dưới. Chỉ khi khoá thực sự hướng xuống dưới, phần thân trên của chúng ta mới có thể duy trì trạng thái trung chính. Nếu như thân trên của chúng ta có bất kỳ sự lắc lư, nghiêng bên trái ngả bên phải, tiền phủ hậu ngưỡng (cúi về trước ưỡn về sau) nào, thì vấn đề nhất định là nằm ở khoá.
Thả lỏng eo/thắt lưng(Tùng yêu): “Kỳ căn tại cước, phát lực vu thối, chủ tể vu yêu, hành vu thủ chỉ” (Gốc rễ ở chân, phát lực ở đùi, chủ tể ở eo, thể hiện ra ở ngón tay). Do đó, vùng eo của chúng ta là một phần vô cùng then chốt trong toàn bộ quá trình luyện tập. Vì vậy trong Trạm Trang, yếu lĩnh đối với vùng eo chính là Tùng yêu, tức là đem vùng eo của chúng ta thả lỏng hoàn toàn. Toàn bộ vận động của tứ chi, vận động ở chân và vận động ở tay của chúng ta đều thông qua vùng eo mà kết nối lại với nhau. Cho nên vùng eo của chúng ta ở bất kỳ thời điểm nào cũng đều duy trì trạng thái thả lỏng, không dùng lực. Khi vùng eo của chúng ta thả lỏng xuống, phần eo sẽ hơi phình nhẹ ra phía sau, đồng thời bụng dưới sẽ hơi thu nhẹ vào trong một chút, nhưng lưu ý bụng dưới phải giữ được sự thả lỏng. Đôi khi đến giai đoạn Tùng yêu, hoặc trong quá trình Trạm Trang, phần bụng dưới và vùng eo của chúng ta lại vô thức bị căng cứng lên.
Trầm vai hạ chỏ (Trầm kiên trụy trửu): Trong quá trình luyện tập, rất coi trọng sự “Nhất khí ha thành” (liền mạch một hơi). Phần trên và phần dưới gắn kết và đi liền với nhau, đây là một quy tắc vô cùng quan trọng trong quá trình luyện tập. Vậy làm sao để động tác của tay và động tác của thân thể chúng ta kết nối liền mạch thành một khối? Trầm kiên và Trụy trửu chính là điều không thể thiếu!
Trầm kiên chính là đem vùng vai thả lỏng hoàn toàn. Còn về Trụy trửu, trong quá trình Trạm Trang, nhiều người lại cố ý ép khuỷu tay (chỏ) rủ gập xuống dưới, nhưng thực tế làm như vậy tuy chỏ của bạn có trụy xuống thật, nhưng lại làm gãy cổ tay. Cho nên trong trạng thái bình thường của chúng ta, khuỷu tay dù cho có đặt rất cao hay đặt rất thấp, nó đều phải giữ được một cảm giác chỏ đang trầm xuống và trút xuống phía dưới. Đây cũng chính là trạng thái “Dụng ý bất dụng lực” mà chúng ta thường hay nhắc tới, chứ không nhất thiết cứ phải ép khuỷu tay rủ hẳn xuống như thế mới đúng.
Hổ khẩu căng tròn, mười ngón tay dẫn kình (Hổ khẩu băng viên, thập chỉ dẫn kình): Về phần tay, chúng ta nói đến Hổ khẩu (vùng kẽ giữa ngón cái và ngón trỏ), Hổ khẩu băng viên, thập chỉ dẫn kình (Hổ khẩu căng tròn, mười ngón tay dẫn kình). Tương tự như quy tắc Thập chỉ trảo địa đã nói ở trên — kình phải thẩm thấu xuống tận lòng đất — thì trên tay chúng ta cũng phải thông qua các ngón tay, giữ cho mỗi một khớp ngón tay đều ở trạng thái vi khúc (hơi gập nhẹ), sau đó đem cái kình này từ trong thân thể dẫn xuất ra ngoài. Điều này cũng vô cùng quan trọng. Bởi vì các mạch máu nằm xa tim chúng ta nhất chính là các mạch máu ở đầu ngón tay và đầu ngón chân. Ngón tay chúng ta dẫn kình cũng là một phương diện để dẫn Khí đi tới. Chỉ khi Khí huyết có thể tới nơi, thì Kình của chúng ta mới có thể tới nơi. Nếu như Khí huyết còn không tới được, thì Kình của chúng ta tuyệt đối không thể tới được.
Hàm hung bạt bối (Thu ngực vươn lưng): Ở đoạn trên đã nói về Tùng yêu (thả lỏng eo) và Tọa khoá (ngồi hông). Cột sống của con người chúng ta vốn có hình chữ S, cho nên khi chúng ta có thể làm đúng yêu cầu của eo và hông, thì thực tế các đốt cột sống sẽ được kéo giãn thành một hình cánh cung hơi uốn cong. Do đó trong võ thuật mới có câu: “Thân bối ngũ trương cung” (Thân lưng có năm cánh cung). Cột sống chính là một cánh cung rất quan trọng trên cơ thể chúng ta.
Như vậy đối với phần dưới của toàn bộ cột sống, khi đã Tùng yêu tọa khoá, thì tiếp tục hướng lên phía trên, phần lưng và cổ của chúng ta cũng phải chú ý giữ thành hình dạng một cánh cung. Bởi vậy, điều này được gọi là Hàm hung bạt bối. Vùng lưng của chúng ta phải thông qua một cái Kình để vươn (bạt) thẳng lên phía trên, còn vùng ngực thì phải hơi thu (hàm) nhẹ vào bên trong. Đây cũng là yếu lĩnh động tác có liên quan mật thiết với Trầm kiên (trầm vai).
Đồng thời, dựa trên cơ sở Hàm hung này, mục đích còn là để đem toàn bộ Kình của chúng ta hợp lại làm một, cũng là phương pháp giúp cho hai xương bả vai ở phía sau lưng có thể mở tròn ra, ôm lại trọn vẹn như một vòng tròn.
Hư lĩnh đỉnh kình: Chúng ta nói “thần năng đề, tắc khởi” (thần có thể nâng lên, thì mới phát khởi được). Thận của chúng ta là tiên thiên chi bản (gốc rễ của tiên thiên), thận khí của chúng ta đi lên hoàn toàn phải dựa vào cột sống, rồi sau đó mới đi tới đỉnh đầu, tức huyệt Bách hội. Vì vậy trong Trạm Trang có một yếu lĩnh gọi là Hư lĩnh đỉnh kình.
Vậy Hư lĩnh đỉnh kình thực chất là đang nói về việc huyệt Bách hội của chúng ta hơi nhẹ nhàng hướng lên trên để dẫn dắt (lĩnh) kình đi lên. Vậy tại sao không dùng từ Bách hội thượng đỉnh (Bách hội húc/đội lên) mà lại dùng Hư lĩnh đỉnh kình? Điều đó có nghĩa là trong sự hư vô (không dùng sức cơ bắp) mà tĩnh tâm lĩnh hội cái Kình hướng lên trên đỉnh đầu ấy. Nói cách khác, đó vẫn là năm chữ mà chúng ta thường nhắc tới: “Dụng ý bất dụng lực”. Đem huyệt Bách hội của chúng ta nhẹ nhàng dẫn dắt nâng lên, đồng thời lưu ý hạ ngạc (cằm) phải hơi thu nhẹ vào trong, thì huyệt Bách hội mới có thể hướng lên trên mà nâng dắt trọn vẹn được.
Hai mắt buông rèm (Song mục thuỳ liêm): Trong quá trình Trạm Trang, ánh mắt của chúng ta nếu như hướng theo đường luyện thực chiến, luyện kỹ kích (đối kháng) thì có thể phóng tầm mắt nhìn ra xa, càng xa càng tốt. Nhưng nếu luyện về phương diện dưỡng sinh thì chúng ta có thể Song mục thuỳ liêm. Song mục thuỳ liêm chính là hai mi mắt của chúng ta giống như bức rèm cửa, nhẹ nhàng rủ xuống, giữ cho toàn bộ vùng mày tâm (kẽ giữa hai lông mày) bao gồm cả vùng trán luôn thả lỏng, mắt nhắm nhẹ lại. Cũng có rất nhiều bạn hỏi tôi có cần thiệt để thượng ngạc (lưỡi tựa vòm họng trên) hay không. Thực ra khi mới bắt đầu học Trạm Trang thì chưa cần thiệt để thượng ngạc, nhưng nếu bạn muốn tiếp tục đi sâu hơn, học theo hướng tu hành Đạo gia và góc độ dưỡng sinh thì có thể thử dùng đầu lưỡi chống/tựa nhẹ vào thượng ngạc (vòm họng trên), sau đó hàm răng trên và hàm răng dưới nhẹ nhàng khấu (khớp nhẹ) lại với nhau, giữ cho cơ thịt ở hai bên má cũng hoàn toàn thả lỏng.
Người xưa có câu: “Vạn bệnh nguyên vu huyết, bách bệnh khởi vu khí, kinh lạc thông tắc bách bệnh tiêu.” (Muôn bệnh đều bắt nguồn từ huyết, trăm bệnh khởi phát từ khí, kinh lạc thông suốt thì muôn bệnh tiêu tan). Chúng ta chính là nhờ học tập, thông qua hệ thống luyện tập, mới có thể cải thiện các triệu chứng á kiện khang (tình trạng kém khỏe mạnh/suy nhược) trên cơ thể, gián tiếp phục hồi và cải thiện các loại bệnh nan y, điều này không phải là không có đạo lý. Chính vì thế, hiệu quả cải thiện của nó quá rõ rệt, nên người xưa mới không muốn để nó bị vùi lấp trong bụi thời gian, để có thể mang lại lợi ích cho nhiều người hơn nữa, mà lưu truyền suốt ngàn năm nay.
Tuy Trạm Trang là một môn công phu “tĩnh trung cầu động, động trung cầu tĩnh” (trong tĩnh tìm động, trong động tìm tĩnh), nhưng chỉ cần thực hành theo tư thế mà thầy hướng dẫn, căn cứ vào thể chất mạnh yếu và bệnh trạng khác nhau mà sắp xếp cho phù hợp. Nói chung, tư thế không nên thay đổi quá nhiều, bởi vì trong trạng thái thần tĩnh khí hòa (thần yên tĩnh, khí điều hòa), tuần hoàn máu bắt đầu tăng tốc. Trong quá trình luyện tập Trạm Trang, lòng bàn tay và lòng bàn chân sẽ nóng lên, không chỉ có tác dụng bổ tim và dưỡng thận, mà còn có thể điều động toàn bộ các huyệt vị và kinh lạc có lợi cho thân thể. Có thể nói: “Nhất trạm thông kinh huyệt, nhất bão kiện khang lai!” (Một lần đứng là thông kinh huyệt, một cái ôm là mang sức khỏe đến!). Phương pháp “ôm trọn sức khỏe” đơn giản ấy đã kết hợp một cách hoàn hảo giữa dưỡng thân và dưỡng tâm. Đừng coi thường động tác “tùy ý đứng thẳng, hai tay vòng ôm, toàn thân thả lỏng” (tuỳ ý trạm lập, song thủ hoàn bão, toàn thân phóng tùng) này, chính nó sẽ giúp con người vô hình trung tạo ra trạng thái dưỡng sinh tối ưu, trực tiếp kích hoạt rất nhiều chức năng của các huyệt vị đặc biệt trên cơ thể:
1. Trong quá trình đứng, vô hình trung điều động được cặp đại huyệt Túc Tam Lý;
2. Tư thế đứng của bàn chân, điều động được Dũng Tuyền huyệt;
3. Tư thế hai tay vòng ôm, vừa vặn điều động được Lao Cung huyệt; 4. Vùng ngực, bụng và lưng được thả lỏng triệt để, lại thông được Nhâm Đốc nhị mạch (hai mạch Nhâm và Đốc).
(Nguồn: Sưu tầm)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Trong nhịp sống hiện đại hối hả, áp lực công việc, ô nhiễm môi trường và lối sống ít vận động đang khiến nhiều gia đình đối mặt với muôn vàn vấn đề sức khỏe: từ suy nhược thần kinh, mất ngủ triền miên cho đến các bệnh mãn tính…
Trong nhịp sống hiện đại hối hả, áp lực công việc, ô nhiễm môi trường và lối sống ít vận động đang khiến nhiều gia đình đối mặt với muôn vàn vấn đề sức khỏe: từ suy nhược thần kinh, mất ngủ triền miên cho đến các bệnh mãn tính như cao huyết áp, tim mạch, sa dạ dày hay viêm khớp. Thay vì bị động chờ đợi bệnh tật xuất hiện rồi mới tìm đến thuốc men hay phẫu thuật, xu hướng chăm sóc sức khỏe chủ động đang trở thành mục tiêu hàng đầu của mỗi cá nhân và gia đình.
Chăm sóc sức khỏe chủ động không chỉ đơn thuần là ăn uống lành mạnh hay tập thể dục thông thường, mà là quá trình đánh thức và tối ưu hóa khả năng tự phục hồi tiềm ẩn bên trong cơ thể. Nổi bật trong kho tàng dưỡng sinh Y học Phương Đông, Thiếu Lâm Khí Công: Nội Kình Nhất Chỉ Thiền – môn công pháp thượng thặng bắt nguồn từ chùa Thiếu Lâm – đã chứng minh vai trò kỳ diệu của mình không chỉ qua hàng trăm năm truyền thừa mà còn qua các kiểm chứng khoa học hiện đại.
Bài viết này sẽ giúp bạn và gia đình hiểu rõ vì sao tập luyện khí công lại là “chìa khóa vàng” để phòng bệnh tự nhiên, phục hồi thể lực và kiến tạo một cuộc sống an lành, trường thọ.
Từ xa xưa, Đại danh y Hoa Đà thời Hán đã khẳng định: “Thân thể cần phải có lao động, song không được lao động quá sức. Hoạt động sẽ tiêu được cốc khí, huyết mạch sẽ lưu thông, không thể sinh bệnh được, cũng như bản lề cửa không bao giờ mục vậy”. Cổ nhân cũng có câu: “Nước chảy không thối, lề cửa không mục”.
Không giống như các môn thể thao đòi hỏi tiêu hao thể lực mãnh liệt trong thời gian ngắn, khí công vận hành theo nguyên tắc “Luyện dưỡng kết hợp, Dinh vệ tràn đầy, Phò chính trừ tà, Ít sinh bách bệnh”.
Nhiều người thường lầm tưởng khí công là một phương pháp mang màu sắc huyền bí. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu hiện đại đã vén mở bản chất khoa học khách quan của công pháp này. Giáo sư Tiền Học Sâm – nhà khoa học hàng đầu Trung Quốc – từng nhận định: Khí công chính là “chiếc búa gõ cửa” của Khoa học Nhân thể, tạo nên bước nhảy vọt giúp cơ thể con người đạt tới công năng tối ưu.
Các thực nghiệm vật lý và y học hiện đại đã đưa ra những số liệu đầy thuyết phục:
Vai trò quan trọng nhất của khí công đối với cá nhân và gia đình chính là khả năng phòng chữa và phục hồi các căn bệnh mãn tính lâu năm – những căn bệnh mà việc dùng thuốc Tây kéo dài thường gây ra nhiều tác dụng phụ.
Một khảo sát thực tế tại Học viện Công nghiệp Đông Bắc trên hàng trăm giáo viên, viên chức và sinh viên tập luyện Nhất Chỉ Thiền đã cho thấy kết quả ấn tượng: 100% người tham gia đều có chuyển biến tích cực, trong đó 22% – 30% khỏi bệnh hoàn toàn và 69% – 78% bệnh tình thuyên giảm rõ rệt. Đáng chú ý, 68% bệnh nhân đã ngừng hẳn việc dùng thuốc và 21% cắt giảm được lượng thuốc uống.
Dưới đây là các căn bệnh mãn tính phổ biến được phục hồi kỳ diệu nhờ khí công:
Trạm trang công tạo nên hiệu ứng “trọng lực phản bác”, thúc đẩy máu từ thân dưới tuần hoàn mạnh mẽ về tim, não và thận.
Các động tác trong bài Nhiệt thân pháp (như Áp Đan điền, Đề Đan điền, Mài Đan điền) có tác dụng xoa bóp cơ học trực tiếp lên dạ dày và ruột. Nhờ đó, các chứng sa dạ dày, viêm loét dạ dày, viêm van tâm vị, trĩ và tiêu hóa kém đều khỏi hẳn sau 1–3 tháng, giúp người bệnh ăn ngon, tăng cân và hồi phục thể lực.
Khí công giúp nuôi dưỡng mô xương, làm dẻo dai dây chằng và giải phóng chèn ép thần kinh. Nhiều bệnh nhân bị viêm khớp gối nặng không thể đi lại, tổn thương đốt sống cổ, hay bị đau lưng lao tổn nhiều năm đã phục hồi hoàn toàn, vứt bỏ gậy chống và leo tầng lầu dễ dàng.
Luyện tập khí công mang lại trạng thái nghỉ ngơi tích cực cho vỏ đại não. Những người bị mất ngủ triền miên, đau đầu bốc hỏa, suy nhược thần kinh do lao động trí óc dồn dập đã lấy lại giấc ngủ sâu, tinh thần minh mẫn, tăng cường trí nhớ và hiệu suất làm việc/học tập gấp nhiều lần.
Thiếu Lâm Khí Công Nội Kình Nhất Chỉ Thiền được thiết kế thành một hệ thống luyện tập đa dạng, dễ tiếp cận cho mọi thành viên trong gia đình:
Sức khỏe không phải là thứ chúng ta có thể mua được khi đã mất đi, mà là thành quả của quá trình chăm sóc chủ động mỗi ngày. Thiếu Lâm Khí Công: Nội Kình Nhất Chỉ Thiền chính là món quà vô giá mà cổ nhân truyền lại, được khoa học hiện đại chứng thực về hiệu quả phòng bệnh và phục hồi sức khỏe.
Đừng chờ đến khi cơ thể phát ra tín hiệu “kêu cứu” vì bệnh tật mới lo lắng chữa trị. Hãy bắt đầu ngay hôm nay! Chỉ cần dành ra 20 đến 30 phút mỗi ngày để cùng các thành viên trong gia đình bước vào không gian luyện tập khí công. Việc kiên trì rèn luyện không chỉ giúp cả nhà phòng ngừa bách bệnh, duy trì huyết áp ổn định, tinh thần minh mẫn mà còn gắn kết tình cảm gia đình, hướng tới một cuộc sống an vui, khỏe mạnh và trường thọ!
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Trạm Trang (Zhan Zhuang | ) , hay còn gọi là Đứng thiền (đứng như một cây cột/cái cây), là một trong những phương pháp rèn luyện cốt lõi và mạnh mẽ nhất của Khí công Y học và Võ thuật cổ truyền.
Trạm Trang (Zhan Zhuang | ), hay còn gọi là Đứng thiền (đứng như một cây cột/cái cây), là một trong những phương pháp rèn luyện cốt lõi và mạnh mẽ nhất của Khí công Y học và Võ thuật cổ truyền. Mặc dù bên ngoài người tập hoàn toàn bất động, nhưng bên trong cơ thể lại diễn ra các chuyển động năng lượng vô cùng sống động và mạnh mẽ.
Dưới đây là bài phân tích chi tiết về Trạm Trang dưới góc nhìn dưỡng sinh, giải phẫu Khí công và mạc cơ:
Theo các tài liệu Khí công chuyên sâu, việc rèn luyện Trạm Trang hướng tới ba tầng mục đích chính:
Để Trạm Trang đạt hiệu quả tối ưu, người tập cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc căn chỉnh giải phẫu cơ thể sau:
Trạm Trang là một hệ thống bài tập năng lượng đặc biệt hiệu quả nhờ các cơ chế sau:
Bạn có thể dễ dàng thực hành bài tập này hàng ngày tại nhà:
Trạm Trang là quá trình người tập liên tục “lắng nghe” cơ thể để phát hiện các vùng căng thẳng vật lý hay cảm xúc bị tắc nghẽn, từ đó dùng hơi thở và ý niệm để tự chữa lành và khôi phục trạng thái cân bằng tự nhiên.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Hệ thống Ngũ Hành là trục quy chiếu cốt lõi liên kết cơ thể học Đông y, cơ chế phát lực – quyền hình võ thuật, nguyên lý điều thân – điều tức trong khí công và phép dưỡng sinh ẩm thực.
Hệ thống Ngũ Hành là trục quy chiếu cốt lõi liên kết cơ thể học Đông y, cơ chế phát lực – quyền hình võ thuật, nguyên lý điều thân – điều tức trong khí công và phép dưỡng sinh ẩm thực.
| Yếu Tố / Bình Diện | MỘC () | HỎA () | THỔ () | KIM () | THỦY () |
| Bản chất khí hoá | Sinh sôi, vươn tỏa | Bốc lên, ấm nóng | Thu nạp, chuyển hóa | Thu liễm, thanh trừng | Tàng trữ, nhu nhuận |
| Tạng – Phủ | Can – Đởm | Tâm – Tiểu trường | Tỳ – Vị | Phế – Đại trường | Thận – Bàng quang |
| Khai khiếu & Thể | Mắt & Cân (Gân) | Lưỡi & Mạch (Huyết) | Miệng/Môi & Cơ nhục | Mũi & Bì mao (Da, lông) | Tai & Cốt (Xương, tủy) |
| Tình chí & Vị | Giận (Nộ) — Vị Chua | Mừng (Hỉ) — Vị Đắng | Lo nghĩ (Ưu) — Vị Ngọt | Buồn (Bi) — Vị Cay | Sợ (Khủng) — Vị Mặn |
| Khí công (Lục Tự Quyết) | Âm XU () | Âm HA () | Âm HÔ () | Âm SI () | Âm XUY () |
| Phương vị & Luyện thở | Hướng Đông; dẫn khí sơ tiết, điều nhu | Hướng Nam; định tâm, giáng hỏa, nạp đan điền | Trung ương; thổ nạp điều hòa tỳ vị | Hướng Tây; tụ khí phế nang, thâu liễm | Hướng Bắc; bồi tích chân nguyên quy Thận |
| Võ thuật (Hình ý / Quyền hình) | Xà hình / Băng quyền (Du ngoạn, uốn lượn, gân lực) | Long hình / Pháo quyền (Bùng nổ, tốc độ, biến ảo) | Hạc hình / Hoành quyền (Trầm ổn, thăng bằng, gốc tấn) | Hổ hình / Phách quyền (Cương mãnh, chém bửa, cốt kình) | Báo hình / Toản quyền (Xoắn ốc, luồn lách, kình xuyên thấu) |
| Kình lực & Cơ chế | Cân kình (Độ đàn hồi của gân cơ) | Tâm kình (Ý niệm, phản xạ chớp nhoáng) | Thung kình (Lực từ gốc rễ, trọng tâm) | Cốt kình (Lực phát ra từ cấu trúc xương) | Tủy kình / Nguyên kình (Kình nhu xuyên sâu) |
| Dinh dưỡng (Màu sắc) | Xanh lục | Đỏ, tím đậm | Vàng, cam đất | Trắng | Đen, xanh thẫm |
| Thực phẩm dưỡng sinh | Rau xanh đậm, cần tây, trà atiso, táo xanh | Đậu đỏ, kỷ tử, củ dền, táo đỏ, hạt sen | Bí đỏ, khoai lang, yến mạch, phấn hoa | Củ cải trắng, lê, nấm tuyết, hạnh nhân | Đậu đen, mè đen, hải sâm, nấm hương, óc chó |
Dinh dưỡng dưỡng sinh theo bốn mùa thuận theo nguyên lý “Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng” của Đông y, kết hợp cân bằng ngũ vị nhằm bảo tồn chân khí và tối ưu hóa chuyển hóa.
| Mùa & Khí Hóa | Tạng Trọng Tâm & Vị Quy Kinh | Nguyên Tắc Phối Vị & Chế Biến | Nhóm Thực Phẩm Chủ Đạo | Thực Đơn Mẫu Một Ngày |
| MÙA XUÂN (Mộc sinh – Phong) | Dưỡng Can, kiện Tỳ • Tăng vị ngọt thanh (Thổ) • Giảm vị chua gắt (Mộc) | Thăng phát sơ tiết: Hạn chế xào rán dầu mỡ; ưu tiên chần, hấp, luộc để giải nhiệt uất mùa đông, giữ khí huyết lưu thông. | • Rau mầm, cần tây, bina, bông cải xanh. • Táo tàu, khoai mỡ, củ mài (hoài sơn). • Trà hoa cúc, trà xanh, đậu xanh. | • Sáng: Cháo hoài sơn, hạt sen, kỷ tử. • Trưa: Cá quả hấp gừng hành, canh rau bina nấu thịt nạc, cơm gạo lứt. • Tối: Canh sườn hầm củ mài + nấm đông cô, rau củ luộc chấm mè. |
| MÙA HẠ (Hỏa vượng – Thử/Thấp) | Dưỡng Tâm, thanh nhiệt, ích Tỳ • Tăng vị đắng nhẹ (Hỏa) • Vị chua dịu sinh tân dịch | Thanh đạm tả hỏa: Nấu canh lỏng, hấp nhẹ; tránh đồ cay nóng bốc hỏa, bù đắp nước và điện giải tự nhiên. | • Khổ qua (mướp đắng), ngó sen, củ dền. • Đậu đỏ, đậu xanh, hạt sen, ý dĩ. • Dưa hấu, dưa lưới, thanh long. | • Sáng: Yến mạch nấu sữa hạt sen và đậu đỏ. • Trưa: Khổ qua xào trứng (dầu ô liu), canh cua đồng nấu mướp mồng tơi, cơm trắng. • Tối: Đậu hũ sốt cà chua, canh nghêu thì là giải thử, chè đậu xanh hạt sen (ít ngọt). |
| MÙA THU (Kim thu – Táo) | Nhuận Phế, sinh tân dịch • Tăng vị chua/ngọt (liễm Phế) • Giảm vị cay nồng (tránh hao khí) | Tư âm nhuận táo: Hầm nhừ, tiềm chậm để sinh tân dịch, chống khô da lông, niêm mạc hô hấp. | • Củ cải trắng, lê, nấm tuyết, bách hợp. • Hạnh nhân, mè trắng, củ ấu. • Mật ong, yến sào, mộc nhĩ trắng. | • Sáng: Cháo nấm tuyết bách hợp hạt sen, mật ong. • Trưa: Ức gà hấp nấm hương, canh sườn củ cải trắng ngọt thanh, cơm ngũ cốc. • Tối: Canh lê tiềm kỷ tử thịt bằm, ngó sen xào tôm nõn, bí đao luộc. |
| MÙA ĐÔNG (Thủy tàng – Hàn) | Bổ Thận, ôn dương ích tinh • Tăng vị mặn tự nhiên dịu nhẹ • Gia giảm vị cay ấm (ôn trung) | Ôn bổ tàng trữ: Hầm kỹ, tiềm thuốc bắc, kho nhừ giúp sinh nhiệt lượng, giữ ấm hạ tiêu và khớp xương. | • Đậu đen, mè đen, gạo lứt tím. • Nấm đông cô, mộc nhĩ đen, hải sâm. • Thịt dê, thịt bò, hạt óc chó, hạt dẻ. | • Sáng: Cháo gạo nếp đậu đen mè đen, long nhãn. • Trưa: Bò kho quế hồi/củ cải, canh gà hầm kỷ tử hoài sơn, cơm gạo tím. • Tối: Cá chép chưng tương gừng xả, canh nấm đông cô rong biển sườn non, rau cải cay xào tỏi. |
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Trong dòng chảy phát triển của văn hóa nhân loại, võ thuật chưa bao giờ đơn thuần chỉ là những đòn thế đấm đá, kỹ thuật chiến đấu hay công cụ sinh tồn trong thời loạn lạc.
Trong dòng chảy phát triển của văn hóa nhân loại, võ thuật chưa bao giờ đơn thuần chỉ là những đòn thế đấm đá, kỹ thuật chiến đấu hay công cụ sinh tồn trong thời loạn lạc. Đi sâu vào bản chất cốt lõi, võ thuật chính là một con đường rèn luyện toàn diện, giúp con người hoàn thiện cả về thể chất, trí tuệ lẫn tâm hồn.
Triết lý sâu sắc nhất của võ học phương Đông đã cô đọng mục đích cao nhất của việc rèn luyện trong 8 chữ: “Học võ để tu tâm dưỡng tính”. Đó không phải là lời nói triết lý suông, mà là kim chỉ nam được đúc kết qua hàng ngàn năm, nơi năm giá trị cốt lõi – Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín – trở thành nền tảng định hình bản lĩnh và nhân cách của một võ sĩ chân chính.
Trước khi chạm đến những tầng sâu về đạo đức và tâm linh, võ thuật trước hết là một phương pháp rèn luyện thể chất vô cùng đặc biệt. Khác với các môn thể thao thông thường chỉ tập trung vào một vài nhóm cơ hay kỹ năng nhất định, võ thuật yêu cầu sự phối hợp nhịp nhàng và toàn diện của toàn bộ cơ thể.
Mỗi buổi tập võ là một quá trình thử thách giới hạn của cơ thể. Từ các bài tập căn bản như đứng tấn, di chuyển, đến việc thực hiện các bài quyền hay đối luyện, hệ cơ bắp, xương khớp và hệ tim mạch đều được kích hoạt tối đa. Việc duy trì tập luyện thường xuyên giúp nâng cao sức bền, cải thiện tuần hoàn khí huyết và giúp cơ thể trở nên săn chắc, dẻo dai.
Trong võ thuật, khoảng cách giữa sự an toàn và nguy hiểm đôi khi chỉ tính bằng phần nghìn giây. Người học võ được rèn luyện để quan sát, phân tích và phản ứng lại các chuyển động một cách tự nhiên và nhanh chóng. Khả năng làm chủ không gian, giữ thăng bằng và phản xạ linh hoạt không chỉ có giá trị trong võ đường mà còn ứng dụng hiệu quả vào việc né tránh tai nạn, chấn thương trong cuộc sống thường nhật.
Đặc biệt trong các môn võ truyền thống và nội gia, việc tập luyện luôn đi kèm với sự điều hòa hơi thở (khí công, dưỡng sinh). Sự kết hợp giữa động tác bên ngoài (Thân) và hơi thở bên trong (Khí) giúp kích thích sự lưu thông của kinh lạc, giải tỏa các điểm tắc nghẽn trong cơ thể, từ đó nâng cao hệ miễn dịch và duy trì trạng thái thể chất cân bằng, dẻo dai theo thời gian.
Nếu thể chất là “vỏ bọc” thì đạo đức chính là “linh hồn” của võ thuật. Khi một người nắm giữ trong tay sức mạnh có thể gây tổn thương cho người khác, nếu thiếu đi sự định hướng của đạo đức, sức mạnh đó sẽ trở thành mối nguy hại. Chính vì vậy, ngũ thường Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín đã trở thành thước đo giá trị cao nhất của người học võ.
┌────────────────────────────────────────┐ │ HỌC VÕ ĐỂ TU TÂM DƯỠNG TÍNH │ └───────────────────┬────────────────────┘ │ ┌──────────────┬─────────────┼─────────────┬──────────────┐ ▼ ▼ ▼ ▼ ▼ NHÂN NGHĨA LỄ TRÍ TÍN Giúp người, Bảo vệ lẽ Kính trên, Biết lý lẽ, Giữ đúng làm người phải & biết nhường dưới phân biệt lời hứa cho đúng ơn thiện - ác
Chữ Nhân nằm ở vị trí đầu tiên và là gốc rễ của nhân cách. Người học võ luyện tập sức mạnh không phải để áp đảo, đe dọa hay bắt nạt kẻ yếu hơn, mà là để tích lũy khả năng giúp đỡ người khác.
Học võ để biết yêu thương con người, biết đồng cảm trước những nỗi đau và bất công. Một võ sĩ có chữ “Nhân” là người biết dùng sức mạnh của mình như một lá chắn bảo vệ kẻ yếu, sống có tình có nghĩa và biết ứng xử sao cho trọn vẹn đạo làm người. Võ lực khi kết hợp với lòng nhân ái sẽ trở thành sự che chở, chứ không phải là sự tàn phá.
Chữ Nghĩa tượng trưng cho tinh thần trách nhiệm, sự công bằng và lòng dũng cảm.
Sự tôn trọng là nguyên tắc sống còn trong mọi võ đường. Chữ Lễ bắt đầu từ những hành vi nhỏ nhất: cúi chào khi bước vào võ đường, chào sư phụ, chào bạn tập trước và sau mỗi buổi đối luyện.
Nề nếp của chữ “Lễ” giúp gọt dũa cái “tôi” ngông cuồng, rèn luyện sự khiêm nhường và tạo nên một môi trường văn minh, tôn trọng lẫn nhau.
Võ thuật không chỉ cần cơ bắp mà rất cần trí tuệ. Chữ Trí ở đây chính là sự minh mẫn, khả năng tư duy và nhận thức sâu sắc về cuộc sống.
Chữ Tín là sự uy tín, lòng tin và tính trung thực. Một người võ sĩ nói được phải làm được.
Trong xã hội hiện đại – nơi con người phải đối mặt với áp lực công việc gia tăng, lối sống ít vận động và sự bùng nổ của công nghệ – những giá trị của võ thuật lại càng trở nên thiết thực hơn bao giờ hết.
Những giờ phút tập luyện tập trung cao độ trên sàn tập giúp con người gạt bỏ những lo toan, bộn bề công việc. Khi vận động mạnh, cơ thể giải phóng dopamine và endorphin – những hormone hạnh phúc giúp giảm stress, cải thiện tâm trạng và mang lại giấc ngủ sâu hơn.
Để thực hiện thành thạo một đòn thế hay chịu đựng được những bài tập thể lực nặng, người tập phải liên tục đối mặt với sự mệt mỏi, đau đớn và thất bại. Quá trình vượt qua từng giới hạn nhỏ trên sàn tập sẽ đúc kết thành bản lĩnh sống. Khi đối mặt với những biến cố, thất bại hay áp lực trong công việc và cuộc sống, người học võ thường giữ được sự bình tĩnh, kiên cường và tìm cách vượt qua thay vì bỏ cuộc.
Xã hội hiện đại tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro. Việc sở hữu kỹ năng tự vệ cơ bản giúp mỗi cá nhân cảm thấy tự tin hơn khi di chuyển hay sinh sống trong các môi trường khác nhau. Sự tự tin này không đến từ sự hung hăng, mà đến từ niềm tin rằng mình có đủ khả năng để nhận diện nguy hiểm, chủ động thoát hiểm hoặc bảo vệ bản thân và người thân khi cần thiết.
Võ thuật không bắt đầu từ nắm đấm và cũng không kết thúc ở đòn thế. Hành trình học võ thực chất là một quá trình quay vào bên trong, vượt qua những yếu đuối, tính ham danh lợi và cái “tôi” ngông cuồng của chính mình.
Thành công lớn nhất của một người học võ không phải là đánh bại được bao nhiêu đối thủ trên đài cao, mà là chiến thắng được sự lười biếng, sự sợ hãi và những bản tính xấu xa bên trong con người mình. Khi biết lấy Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín làm gốc, võ thuật sẽ trở thành chiếc cầu nối đưa con người đến sự hoàn thiện về thể chất, sự an yên trong tâm hồn và đóng góp những giá trị tốt đẹp cho xã hội. Đó chính là ý nghĩa cao quý nhất của con đường Võ Đạo.
Võ thuật dưỡng sinh là một phương pháp can thiệp toàn diện, tác động đồng thời lên nhiều hệ thống sinh lý của cơ thể thông qua kết hợp giữa nhận thức, ý định, tích hợp cấu trúc, thư giãn chủ động, tăng cường sức mạnh, thở tự…
Võ thuật dưỡng sinh là một phương pháp can thiệp toàn diện, tác động đồng thời lên nhiều hệ thống sinh lý của cơ thể thông qua kết hợp giữa nhận thức, ý định, tích hợp cấu trúc, thư giãn chủ động, tăng cường sức mạnh, thở tự nhiên, hỗ trợ xã hội và triết lý tâm linh. Tác dụng của nó đối với chăm sóc sức khỏe bao trùm cả khía cạnh thể chất, trí não và tâm lý:
Với những hiệu quả đa chiều này, võ thuật dưỡng sinh đang được coi là phương pháp nòng cốt để chuyển đổi mô hình chăm sóc sức khỏe hiện đại từ “chữa bệnh” sang “y tế dự phòng và tự chăm sóc”. Nó không chỉ giúp giảm chi phí y tế mà còn trao quyền để người bệnh chủ động tự duy trì một lối sống khỏe mạnh và cân bằng.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Trong Đông y, “Khí” (Qi) là nguồn năng lượng sống, là động lực cho mọi hoạt động sinh lý. Trong Tây y, điều này tương đương với năng lượng sinh học (ATP) , quá trình trao đổi chất và sự vận hành của hệ thần kinh – nội tiết.
Trong Đông y, “Khí” (Qi) là nguồn năng lượng sống, là động lực cho mọi hoạt động sinh lý. Trong Tây y, điều này tương đương với năng lượng sinh học (ATP), quá trình trao đổi chất và sự vận hành của hệ thần kinh – nội tiết.
Dưới đây là các yếu tố chính làm suy giảm “Khí” (Khí hư) mà bạn cần lưu ý:
Đây là nguyên nhân phổ biến nhất trong xã hội hiện đại:
Đông y coi Tỳ Vị là “nguồn gốc của hậu thiên chi khí” (năng lượng sau khi sinh ra).
Trong y học cổ truyền, cảm xúc có tác động trực tiếp đến dòng chảy của Khí:
Dưới góc nhìn Tây y và y học tái tạo, Khí suy giảm do:
Lời khuyên tóm lược: Để bảo tồn và bồi dưỡng “Khí”, bạn nên chú trọng vào 4 trụ cột: Hơi thở sâu (Phổi) – Dinh dưỡng đúng (Tỳ) – Giấc ngủ chất lượng (Thận) – Tâm thế bình an (Tâm/Can).
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Dựa trên các nguồn tài liệu, Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho sức khỏe tim mạch (tâm huyết quản) và hệ tuần hoàn, đồng thời cũng có những chỉ định rất nghiêm ngặt đối với người đang…
Dựa trên các nguồn tài liệu, Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho sức khỏe tim mạch (tâm huyết quản) và hệ tuần hoàn, đồng thời cũng có những chỉ định rất nghiêm ngặt đối với người đang mắc các bệnh lý này.
Dưới đây là các tác dụng và lưu ý cụ thể:
• Hỗ trợ trực tiếp bệnh tâm huyết quản và tuần hoàn máu: Bài tập nền tảng Mã bộ trạm trang có tác dụng thúc đẩy khí huyết vận hành, gia tăng lượng máu tuần hoàn, tăng cường hồng cầu và huyết sắc tố. Điều này mang lại hiệu quả trị liệu rất tốt đối với các bệnh tim mạch (tâm huyết quản) và tình trạng thiếu máu, thiếu dưỡng khí lên não.
• Hạ huyết áp: Động tác dang rộng cánh tay và mở lồng ngực trong bài La Đan điền (Đòn gánh) làm cho cơ bắp tay chân thả lỏng, giúp huyết áp hạ thấp, do đó rất có lợi cho việc phòng và trị bệnh cao huyết áp.
• Khu trừ tà khí ở tim: Bài tập Ma Đan điền (Xoa vai) có tác dụng xoa bóp nội tạng, giúp xua đuổi “tà khí” lưu giữ ở tim và phổi, làm cho tim phổi cảm thấy nhẹ nhõm, khoan khoái hẳn lên sau khi tập,.
• Trị liệu thông qua kinh mạch ở ngón tay (Ban chỉ pháp): Theo y học cổ truyền áp dụng trong môn khí công này, các ngón tay có liên hệ trực tiếp đến màng tim và tim. Cụ thể:
◦ Ngón giữa: Nằm trên đường đi của kinh Tâm bào, việc vận động ngón giữa giúp chủ trị các bệnh đau màng tim.
◦ Ngón út: Là điểm kết của kinh Tâm, có tác dụng chủ trị các bệnh về tim.
Tài liệu cũng chỉ ra một số huyệt vị trên tay khi được kích thích (thông qua khí công hoặc bấm huyệt) sẽ giúp trị bệnh tim như: huyệt Đại lăng, huyệt Gian sử, huyệt Thần môn và huyệt Thiếu phủ,.
Mặc dù khí công rất tốt, nhưng do một số động tác đòi hỏi nén khí và dùng sức mạnh, người bị bệnh tim mạch và huyết áp cao tuyệt đối không được tập hoặc phải rất thận trọng với các bài sau:
• Khúc Đan điền (Điểu, ngư lắc đầu): Người bị cao huyết áp và bệnh tim mạch tuyệt đối không được tập,.
• Áp Đan điền và Đề Đan điền: Người bị cao huyết áp không được tập do các động tác này tạo lực ép lớn lên lồng ngực và nội tạng,.
• Lực phách Hoa Sơn: Động tác giơ tay lên cao và bổ xuống, người có huyết áp cao hoặc bệnh tim không được dùng sức quá mạnh.
Tóm lại: Việc luyện tập bài Mã bộ trạm trang, La Đan điền và Ban chỉ pháp (ngón giữa, ngón út) là phương pháp rất tốt để củng cố hệ tim mạch, hạ huyết áp. Tuy nhiên, người bệnh cần tránh các bài tập nén khí mạnh ở vùng ngực và bụng để đảm bảo an toàn.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Trong “Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền”, việc luyện tập cử động ngón tay theo thứ tự 2 – 4 – 1 – 5 – 3 (Ngón trỏ – Ngón áp út – Ngón cái – Ngón út – Ngón giữa) là kỹ thuật cốt lõi và đặc sắc nhất mang tên Ban chỉ pháp ,.
Trong “Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền”, việc luyện tập cử động ngón tay theo thứ tự 2 – 4 – 1 – 5 – 3 (Ngón trỏ – Ngón áp út – Ngón cái – Ngón út – Ngón giữa) là kỹ thuật cốt lõi và đặc sắc nhất mang tên Ban chỉ pháp,.
Trình tự tuân thủ nghiêm ngặt này mang những ý nghĩa và tác dụng vô cùng quan trọng đối với cơ thể:
Theo y học cổ truyền, “mười ngón tay nối liền với tâm” (thập chỉ liên tâm). Mười ngón tay là nơi khởi điểm và kết thúc của 12 đường chính kinh trong cơ thể, có liên quan mật thiết với các tạng phủ. Mỗi ngón tay tương ứng với một đường kinh mạch cụ thể, việc ban động theo đúng thứ tự 2-4-1-5-3 mang ý nghĩa kích hoạt tuần tự các cơ quan:
• Ngón số 2 (Ngón trỏ): Khởi điểm của Thủ dương minh Đại trường kinh. Việc cử động ngón này giúp chủ trị các bệnh về gan, mật và đại tràng,.
• Ngón số 4 (Ngón áp út): Khởi điểm của Thủ thiếu dương Tam tiêu kinh. Giúp chủ trị các bệnh về kinh lạc, tam tiêu và các bệnh phụ khoa,.
• Ngón số 1 (Ngón cái): Điểm kết của Thủ thái âm Phế kinh. Việc ấn ngón này giúp điều khí của Phế kinh, trị bệnh phổi, tỳ, dạ dày, hen suyễn và các bệnh hô hấp trên,.
• Ngón số 5 (Ngón út): Liên hệ với Thủ thiếu âm Tâm kinh và Thủ thái dương Tiểu trường kinh.
• Ngón số 3 (Ngón giữa): Nằm trên đường Thủ quyết âm Tâm bào kinh. Giúp chủ trị các bệnh đau màng tim và các tạng phủ khác.
• Kinh lạc trong cơ thể giống như chiếc ổ khóa, còn ngón tay (và ngón chân) chính là chiếc chìa khóa.
• Sự cử động (ấn xuống và nâng lên) của các ngón tay theo quy luật này làm thay đổi đường vận hành khí, giúp điều chỉnh trực tiếp lưu lượng và vận tốc của khí huyết, từ đó kích phát và tích lũy “nội kình” (sức mạnh tiềm ẩn bên trong).
• Việc cử động ngón tay theo trình tự này tác động trực tiếp đến sự đóng – mở của huyệt Lao cung (ở tay) và huyệt Dũng tuyền (ở chân), hỗ trợ mạnh mẽ cho quá trình thu nạp và phóng khí.
• Ngoài ra, việc liên tục cắt các mạch từ trường ở đầu ngón tay giúp sắp xếp và tăng cường từ trường sinh học của cơ thể (bình thường rất yếu, chỉ khoảng 0,38 gauss ở tay).
Nhờ trình tự kích thích có hệ thống này, người tập có thể đạt được hiệu quả gấp đôi. Thay vì mất 3 đến 6 tháng để đả thông kinh mạch như tĩnh công thông thường, người tập theo trình tự này chỉ mất từ 10 ngày đến 2 tháng là đã có thể khơi thông hai mạch Nhâm và Đốc.
⚠️ Lưu ý quan trọng: Tài liệu quy định người tập không được phép đảo lộn thứ tự này và không được bỏ sót ngón nào. Đồng thời, khi ban động ngón tay nào thì phải cố gắng ấn ngón chân tương ứng xuống đất để tạo sự liên thông âm dương từ trên xuống dưới, giúp khí huyết vận hành trơn tru toàn thân.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Võ dưỡng sinh, theo phương pháp của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, không chỉ đơn thuần là các bài tập thể dục để nâng cao cơ bắp hay sức bền, mà là một nghệ thuật làm chủ toàn diện con người thông qua cơ chế tự điều chỉnh.

Võ dưỡng sinh, theo phương pháp của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, không chỉ đơn thuần là các bài tập thể dục để nâng cao cơ bắp hay sức bền, mà là một nghệ thuật làm chủ toàn diện con người thông qua cơ chế tự điều chỉnh.
Dựa trên các nguồn tài liệu và lịch sử trao đổi về “Cứng tối thiểu, mềm tối đa” và “Linh giác”, dưới đây là phân tích về nghệ thuật làm chủ Thân – Tâm – Trí trong Võ dưỡng sinh:
Làm chủ thân thể là nền tảng đầu tiên, bao gồm việc kiểm soát cả bên trong lẫn bên ngoài để cơ thể có khả năng thích ứng với mọi biến động,.
• Làm chủ bên trong (Nội công): Cốt lõi là làm chủ hệ cơ hoành. Chúng ta không thể trực tiếp điều khiển nhịp tim hay dạ dày, nhưng có thể thông qua việc điều chỉnh nhịp thở (thót bụng thở ra, phình bụng thở vào) để tác động lên nội tạng. Việc vận động cơ hoành giúp “xoa bóp” bộ máy tiêu hóa và tuần hoàn, đẩy máu đi khắp cơ thể.
• Làm chủ bên ngoài (Ngoại công): Đây là nghệ thuật vận động cơ bắp theo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả nhất.
◦ Phối hợp: Kết hợp nhịp nhàng giữa cột sống (trụ cột), hai chân (bám đất/di chuyển) và hai tay (tinh tế/chính xác).
◦ Nguyên tắc vàng: Áp dụng triệt để bí quyết “Cứng tối thiểu, mềm tối đa” mà chúng ta đã thảo luận: chỉ gồng cứng trong khoảnh khắc chạm mục tiêu, còn lại phải thả lỏng để đạt vận tốc cao nhất và tiết kiệm năng lượng.
Trong xã hội hiện đại, con người thường bị stress (kích động tâm lý) dẫn đến rối loạn thần kinh và nội tạng,. Võ dưỡng sinh coi trọng việc làm chủ thần kinh để giữ trạng thái cân bằng.
• Thư giãn chủ động: Khi thần kinh căng thẳng, cơ bắp sẽ căng theo. Ngược lại, nếu chủ động làm giãn mềm cơ bắp (đặc biệt là cơ bàn tay và cơ mặt), thần kinh sẽ được nghỉ ngơi.
• Hình ảnh “Mặt Phật”: Đỉnh cao của thư giãn cơ mặt là đạt được nét mặt không nếp nhăn, mắt lim dim, hàm răng hạ xuống – biểu hiện của một tâm hồn không còn xao xuyến.
• Điều hòa nhịp thở: Thở êm ái, chậm rãi và đều đặn được coi là “liều thuốc an thần tốt nhất”. Làm chủ được nhịp thở chính là làm chủ được thần kinh.
Đây là tầng bậc cao nhất của Võ dưỡng sinh, chuyển từ “tập” (học kỹ năng) sang “rèn” (biến đổi cơ thể) và cuối cùng là “tu” (hoàn thiện tinh thần).
• Tập tĩnh (Thiền): Để xua đuổi tạp niệm, người tập cần tập trung suy nghĩ vào một điểm nhất định (hơi thở, sự giãn mềm cơ bắp, hoặc một câu niệm như “OM”). Trạng thái tĩnh giúp hồi phục sức khỏe nhanh chóng và làm sáng suốt trí tuệ.
• Sự liên hoàn Ý – Khí – Lực: Mọi hành động đều bắt đầu từ ý thức. “Ý dẫn khí, khí dẫn lực”. Ví dụ, trong động tác “bái tổ”, ý tập trung vào hơi thở để điều khiển vận động tay chân.
• Linh giác: Như đã bàn ở phần trước, rèn luyện trí còn bao gồm khả năng cảm nhận tinh tế (linh giác), cho phép ứng phó mưu trí và chính xác mà không cần dùng sức thô bạo.
• Thanh thoát: Mục đích cuối cùng của quá trình “tu luyện” là giúp con người trở nên bình tĩnh, tỉnh táo trước mọi tình huống, kiểm soát được ham muốn và giận hờn, đạt đến sự thanh thoát trong tâm hồn.
Tóm lại: Võ dưỡng sinh theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là một quy trình khép kín: Điều hòa nội tạng (Thân) ↔ Thư giãn thần kinh (Tâm) ↔ Tập trung ý chí (Trí),. Người tập thành công là người mà trong bất kỳ hoàn cảnh nào, từ lao động đến chiến đấu hay đời sống thường ngày, đều giữ được sự làm chủ bản thân trọn vẹn.
(Theo cuốn sách “Võ dưỡng sinh” của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện)
Dựa trên các giáo trình và bài giảng của thầy Vương Thụy Đình, trình tự luyện tập Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền được xây dựng một cách khoa học, tuân thủ nguyên tắc “tuần tự tiệm tiến”, từ xây dựng nền tảng (Sơ cấp)…
Dựa trên các giáo trình và bài giảng của thầy Vương Thụy Đình, trình tự luyện tập Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền được xây dựng một cách khoa học, tuân thủ nguyên tắc “tuần tự tiệm tiến”, từ xây dựng nền tảng (Sơ cấp) đến phát triển công năng đặc dị và kỹ năng chiến đấu (Cao cấp).
Dưới đây là lộ trình cụ thể:
Giai đoạn này tập trung vào việc khơi thông kinh lạc, chữa bệnh, cường thân và xây dựng nền tảng nội lực.
• Bước 1: Nhiệt thân pháp (Khởi động): Người tập bắt đầu với 9 bài tập làm nóng (như Dao Đan điền, Ma Đan điền, La Đan điền…). Mục đích là làm mềm dẻo gân cốt, linh hoạt các khớp (thông Lục quan), và “thổ cố nạp tân” (thải cũ nạp mới) để chuẩn bị cơ thể tốt nhất cho việc nạp khí.
• Bước 2: Mã bộ trạm trang (Công pháp nền tảng): Đây là bài tập quan trọng nhất (“Trúc cơ công”). Người tập đứng tấn (Mã bộ), ngón chân bám đất, tay tạo dáng ôm cầu.
◦ Mục đích: Gia tốc vận hành khí huyết, khơi thông kinh lạc, tích lũy nội kình.
◦ Yêu cầu: Tập từ tư thế đứng cao (cao trang) hạ thấp dần xuống (thấp trang) để tăng cường độ.
• Bước 3: Ban chỉ pháp (Luyện ngón tay/chân – Kỹ thuật cốt lõi): Kết hợp với Mã bộ trạm trang, người tập cử động các ngón tay và bấm ngón chân theo quy luật (thứ tự 2-4-1-5-3).
◦ Mục đích: Đả thông hai mạch Nhâm – Đốc, kích thích 12 đường kinh lạc và lục phủ ngũ tạng tương ứng.
• Bước 4: Động công (Luyện tích trữ và giải phóng năng lượng): Sau khi có nền tảng tĩnh (Trạm trang), người tập chuyển sang các bài động công như: Song tý lãm nguyệt, Thập tự thủ, Bão cầu, Đan phượng triều dương, Tiên nhân chỉ lộ…
◦ Mục đích: Luyện “ngoại khí nội thu” (thu khí vào) và “nội khí ngoại phóng” (phát khí ra), rèn luyện sự phối hợp giữa Ý – Khí – Lực.
• Bước 5: Các bài tập hỗ trợ và Thu công:
◦ Điều khí công: La khí, Chuyển khí để điều chỉnh âm dương.
◦ Bảo kiện công (Khai thất khiếu): Xoa bóp các huyệt vị vùng đầu mặt (chải đầu, xoa mắt, xoa mũi, đánh trống trời…) để bảo vệ ngũ quan.
◦ Thu công: Dẫn khí về Đan điền và Lôi thanh (hét tiếng sấm) để tránh sai lệch khí.
Sau khi đã thành thục sơ cấp (thường là sau khi đã đả thông kinh mạch và có nội kình căn bản), người tập tiến lên các bài tập phức tạp hơn nhằm gia tăng công lực và kỹ năng chiến đấu (kỹ kích).
• Nhiệt thân pháp nâng cao: Bổ sung các động tác khởi động khó hơn như: Song giao tý (hai tay giao nhau), Song yêu bối, Đơn bàn long huyền, Đoan bình (bưng bình) để rèn luyện sự dẻo dai và chịu đựng cao hơn.
• Hình trang công (Luyện các thế tấn hình tượng): Từ nền tảng Mã bộ cơ bản, người tập chuyển sang các thế đứng mô phỏng các loài vật hoặc các vị thần để luyện các dòng khí đặc thù:
◦ Xà hình trang (Hình rắn).
◦ Long hình trang (Hình rồng).
◦ Hổ hình trang (Hình hổ).
◦ Kim Cang trang và La Hán trang (mô phỏng các vị hộ pháp).
◦ Hư bộ trang (còn gọi là Kiếm chỉ trang).
• Thiết hoàn công (Luyện với vòng sắt): Người tập đeo các vòng sắt (thiết hoàn) vào tay (đeo “Phối trọng” khoảng 3-5 cân ta) khi luyện các bài vận thủ (như Vận thủ đới phối trọng).
◦ Mục đích: Tăng cường nội kình nhanh chóng, biến cánh tay thành “đồng tường sắt vách” (Khí công bài đả).
• Các kỹ thuật vận khí đặc biệt:
◦ Thái khí pháp: Kỹ thuật lấy khí từ thiên nhiên (mặt trời, mặt trăng, cây cối).
◦ Thôi khí pháp: Kỹ thuật đẩy/phát khí chữa bệnh hoặc tấn công.
◦ Hành công: Luyện khí trong khi đi lại (bước đi) thay vì chỉ đứng một chỗ.
1. Tuần tự tiệm tiến: Tập từ dễ đến khó, từ đứng cao xuống đứng thấp, từ tĩnh đến động. Không được nóng vội đốt cháy giai đoạn.
2. Kiên trì: Giai đoạn đầu (khoảng 10 ngày) thường đau nhức cơ bắp, phải vượt qua giai đoạn này (“hết khổ đến sướng”) mới đạt được kết quả.
3. Chính xác: Không cần nhập tĩnh hay quán tưởng, nhưng bắt buộc tư thế và động tác phải tuyệt đối chính xác.
Bạn nên bắt đầu thuần thục 9 bài Nhiệt thân pháp và Mã bộ trạm trang kết hợp Ban chỉ pháp trước khi nghĩ đến các bài tập cao cấp như Hình trang hay Thiết hoàn công.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Việc luyện tập Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe toàn diện, từ phòng ngừa bệnh tật, nâng cao thể chất đến điều trị các bệnh nan y.

Việc luyện tập Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe toàn diện, từ phòng ngừa bệnh tật, nâng cao thể chất đến điều trị các bệnh nan y.
Dưới đây là chi tiết các lợi ích sức khỏe được phân loại cụ thể:
• Nâng cao hệ miễn dịch và tuổi thọ: Luyện tập giúp cơ thể đạt tới công năng tối ưu, “phù chính khứ tà” (nâng cao chính khí, đẩy lùi tà khí), giúp ít sinh bệnh tật và kéo dài tuổi thọ,. Đặc biệt, phương pháp này giúp tăng cường sức đề kháng (miễn dịch lực) và giảm thiểu chi phí y tế cho người tập.
• Khai phát trí tuệ: Không chỉ phục hồi sức khỏe, khí công còn thúc đẩy trí lực, khai phá tiềm năng trí tuệ của con người,.
• Cân bằng Âm Dương và Khí Huyết: Công pháp giúp khơi thông kinh lạc, điều hòa khí huyết, cân bằng âm dương trong cơ thể, làm cho ngũ tạng lục phủ được điều hòa.
• Đả thông Kinh mạch: Kiên trì luyện tập giúp đả thông hai mạch Nhâm và Đốc (hai mạch quan trọng nhất trong cơ thể), giúp Tinh – Khí – Thần sung mãn.
Việc luyện tập các bài công pháp khác nhau (như Nhiệt thân pháp, Mã bộ trạm trang, Ban chỉ pháp) mang lại hiệu quả trị liệu cho từng hệ cơ quan:
Hệ Thần kinh:
• Cải thiện chức năng của hệ thống thần kinh trung ương, điều tiết sự hưng phấn và ức chế của vỏ đại não.
• Điều trị các chứng suy nhược thần kinh, mất ngủ, chóng mặt, giúp đầu óc tỉnh táo.
• Cung cấp đầy đủ dưỡng khí cho đại não, loại trừ hiện tượng tắc máu ở não.
Hệ Hô hấp:
• Tăng lượng hơi trong phổi (hoạt lượng phổi), tăng cường cơ ngực.
• Hỗ trợ trị liệu viêm phế quản mãn tính, hen suyễn, sưng phổi, dính màng phổi.
• Động tác “Tha Đan điền” (Thổ nạp công) giúp nhả khí bẩn, nạp khí sạch.
Hệ Tiêu hóa và Nội tạng:
• Xoa bóp nội tạng nhịp nhàng, tốt cho các bệnh đường ruột như chướng bụng, khí trệ, biếng ăn, táo bón.
• Trị liệu hiệu quả các chứng sa nội tạng như sa dạ dày, sa thận, sa nang nhờ các động tác như “Đề Đan điền” hay “Hải để lạo nguyệt”.
• Bổ tâm ích tỳ vị, thúc đẩy bài tiết và hấp thu.
Hệ Cơ – Xương – Khớp:
• Làm mềm dẻo gân cốt, linh hoạt các khớp (đặc biệt là 6 khớp lớn: vai, khuỷu, cổ tay, háng, gối, mắt cá).
• Trị liệu các bệnh đau nhức xương khớp, đau lưng, viêm quanh khớp vai (lậu kiên phong), gai đôi cột sống, thoái hóa đốt sống cổ và lưng.
• Giúp xương cứng, gân khỏe, khí thông cốt tủy.
Hệ Tuần hoàn và Máu:
• Tăng cường số lượng hồng cầu, bạch cầu và huyết sắc tố, cải thiện tình trạng thiếu máu và tuần hoàn máu kém.
• Hỗ trợ điều trị huyết áp cao (thông qua các bài tập thư giãn lồng ngực như “La Đan điền”).
• Đặc biệt, bài tập Tha Đan điền (hay Thổ nạp công) với kỹ thuật lấy khí xoa ngực giúp kích thích tuyến ngực (cơ quan trung ương của hệ miễn dịch). Kích tố do tuyến ngực tiết ra là chất quan trọng để phòng bệnh và chống ung thư.
• Ban chỉ pháp (Luyện ngón tay/chân): Đây là kỹ thuật then chốt giúp kích thích sự vận hành kinh khí, tích lũy nội kình. Mỗi ngón tay tương ứng với các tạng phủ, ví dụ: ngón cái trị bệnh phổi; ngón trỏ trị bệnh đại tràng, gan, mật; ngón giữa trị bệnh tim; ngón áp út trị bệnh tam tiêu và phụ khoa,,. Ban chỉ pháp còn giúp chống già, thêm thọ.
• Ngoại khí trị bệnh: Người luyện công lâu ngày có thể tích lũy nội khí để “phát công” (nội khí ngoại phóng) chữa bệnh cho người khác, đặc biệt hiệu quả với các bệnh chấn thương xương, thần kinh và các bệnh nan y.
• Bảo kiện công: Giúp đầu óc minh mẫn, mắt sáng, tai thính, răng khỏe, phòng ngừa liệt mặt và các bệnh ngũ quan.
Lưu ý: Mặc dù mang lại nhiều lợi ích, các nguồn tài liệu cũng cảnh báo rằng người tập cần tuân thủ đúng phương pháp, tuần tự tiệm tiến. Một số động tác mạnh (như Áp Đan điền, Đề Đan điền, Khúc Đan điền) cần thận trọng hoặc không dùng cho người bị huyết áp cao, bệnh tim hoặc sa nội tạng.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Trạng thái “đắc khí” trong quá trình luyện tập Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền được biểu hiện qua nhiều dấu hiệu cụ thể về xúc giác, thính giác, khứu giác và các phản ứng sinh lý nội tại.
Trạng thái “đắc khí” trong quá trình luyện tập Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền được biểu hiện qua nhiều dấu hiệu cụ thể về xúc giác, thính giác, khứu giác và các phản ứng sinh lý nội tại.
Dưới đây là các biểu hiện chi tiết được tổng hợp từ tài liệu:
Đây thường là những biểu hiện đầu tiên và rõ rệt nhất:
• Cảm giác bề mặt: Người tập sẽ thấy lòng bàn tay và các ngón tay xuất hiện các cảm giác như căng, tê, tức, nóng, lạnh hoặc có cảm giác như kiến bò.
• Lực từ trường: Khi hai lòng bàn tay đối nhau (như trong bài Bão cầu), sẽ cảm nhận rõ ràng lực hút nhau hoặc đẩy nhau, giống như đang ôm một quả bóng khí.
• Cảm giác sâu: Đôi khi có cảm giác như bị “giằng xé” ở bàn tay, hoặc luồng khí chạy từ khuỷu tay xuống huyệt Lao cung.
• Hiện tượng “Lôi minh” (Sấm động): Trong bụng phát ra tiếng kêu “óc ách” (sôi bụng) nhưng không phải do tiêu hóa hay muốn trung tiện. Đây là dấu hiệu chân khí đang vận hành, báo hiệu việc luyện công đã bắt đầu “nhập cảnh” (vào trạng thái).
• Bài tiết trọc khí: Người tập có thể bị nấc hoặc trung tiện (đánh rắm). Đây là hiện tượng bình thường để thải khí bẩn (trọc khí) ra ngoài.
• Tăng tiết tân dịch: Nước bọt (tân dịch) tiết ra nhiều, có vị hơi ngọt. Đây được coi là “nước Cam lộ” hay “Thiên thủy”, nuốt vào có tác dụng rất tốt cho tiêu hóa và bổ khí.
• Mùi cơ thể: Có thể ngửi thấy mùi khét hoặc mùi thơm hoa quế (hiện tượng tốt), hoặc mùi hôi tanh/mục thối (do chân khí đang xua đuổi tà khí từ lục phủ ngũ tạng ra ngoài).
• Nhiệt độ cơ thể: Sau khi tập Nhiệt thân pháp hoặc Mã bộ trạm trang kết hợp Ban chỉ pháp, người tập sẽ thấy ấm nóng trong người, khắp người rịn mồ hôi.
• Dòng khí lưu thông: Khi đạt trình độ cao hơn (sau khoảng 10 ngày đến 2 tháng), người tập có thể cảm nhận dòng khí ấm đi từ mạch Đốc (sau lưng) lên đầu và xuống mạch Nhâm (trước ngực), tạo thành vòng tuần hoàn.
• Rung động: Cơ thể có thể tự nhiên nghiêng ngả, chấn động. Đặc biệt, phương pháp làm rung chân (chân run/chân đẩu) cũng được xem là một cách để kích thích khí huyết và giúp “đắc khí” nhanh chóng.
• Tinh thần: Thần trí tỉnh táo, mắt sáng, tinh thần phấn chấn. Người tập có thể cảm thấy thư thái, thậm chí có cảm giác “phiêu diêu như tiên” hoặc đạt được trạng thái “độc lập thủ thần” (tự nhiên yên tĩnh mà không cần cố gắng nhập tĩnh).
• Giấc ngủ: Thời gian ngủ có thể ít đi nhưng tinh thần vẫn rất sung mãn, không buồn ngủ. Tuy nhiên, một số trường hợp khí công tham gia điều chỉnh cơ thể có thể gây buồn ngủ hoặc ngáp nhiều (do nợ ngủ trước đó hoặc cơ thể cần nghỉ ngơi).
Lưu ý: Trong giai đoạn đầu (khoảng 10 ngày đầu), người tập có thể gặp các phản ứng như đau mỏi cơ bắp, đau đùi, đau cánh tay. Đây là giai đoạn cơ thể đang điều chỉnh và vượt qua ngưỡng mệt mỏi, người tập cần kiên trì vượt qua giai đoạn này để đạt được trạng thái “đắc khí” tốt đẹp.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Dựa trên các tài liệu về “Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền”, việc rèn luyện Chân khí (hay còn gọi là Nguyên khí) đóng vai trò cốt lõi và quan trọng nhất trong điều trị bệnh vì những lý do sau: 1.
Dựa trên các tài liệu về “Thiếu Lâm khí công Nội kình nhất chỉ thiền”, việc rèn luyện Chân khí (hay còn gọi là Nguyên khí) đóng vai trò cốt lõi và quan trọng nhất trong điều trị bệnh vì những lý do sau:
Tài liệu khẳng định rằng “Chân khí” (hay Nguyên khí) tương đương với sức đề kháng bệnh tật trong cơ thể con người.
• Nó đại diện cho năng lực thích ứng với môi trường bên ngoài và năng lực tự phục hồi bên trong.
• Trong điều trị các bệnh mãn tính, bệnh tật thường dai dẳng do sức đề kháng của người bệnh đang ở thế “giằng co” với bệnh. Việc rèn luyện Chân khí giúp tăng cường sức đề kháng, phá vỡ thế giằng co này và đẩy lùi bệnh tật.
• Nguyên lý này được gọi là “Phù chính khứ tà” (Nâng cao chính khí/chân khí để đẩy lùi tà khí/bệnh tật),.
Theo y học cổ truyền được trích dẫn trong tài liệu: “Kinh mạch quyết định sự sống chết, giải quyết bách bệnh… Thông thì không đau đớn, không thông thì đau đớn”.
• Rèn luyện Chân khí (thông qua các bài như Mã bộ trạm trang hay Ban chỉ pháp) giúp gia tốc sự vận hành của kinh khí, làm cho kinh lạc toàn thân thông suốt.
• Khi kinh lạc thông suốt, khí huyết sẽ điều hòa, không còn bị ứ trệ, từ đó loại bỏ được các cơn đau và nguyên nhân gây bệnh.
Tài liệu nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết: “Máu là mẹ của khí, khí là tướng soái của máu”.
• Máu cần có Khí thúc đẩy mới lưu thông được đến các cơ quan.
• Việc rèn luyện Chân khí (đặc biệt qua kỹ thuật Ban chỉ pháp – cử động ngón tay/chân) giúp điều chỉnh lưu lượng và vận tốc của khí, từ đó thúc đẩy huyết dịch lưu thông mạnh mẽ.
• Khi khí huyết đầy đủ và lưu thông tốt, các tổ chức bị nhiễm bệnh sẽ nhận được đủ dinh dưỡng để hồi phục và đẩy lùi bệnh tật.
• Cân bằng Âm Dương: Bệnh tật sinh ra do mất cân bằng âm dương. Rèn luyện Chân khí giúp cơ thể tự điều chỉnh, thiết lập lại trạng thái cân bằng này.
• Củng cố hệ Thần kinh: Tài liệu chỉ rõ “Rèn luyện khí công chính là rèn luyện thần kinh”. Chân khí vận hành giúp cải thiện chức năng của hệ thống thần kinh trung ương (bộ tư lệnh của cơ thể), từ đó điều tiết hoạt động của lục phủ ngũ tạng trở lại bình thường.
Các bài tập vận khí (như Tha Đan điền) giúp thực hiện quá trình trao đổi khí sâu:
• Đào thải khí bẩn (trọc khí) và bệnh khí ra ngoài (biểu hiện qua việc trung tiện, nấc, toát mồ hôi hôi).
• Nạp vào dưỡng khí trong sạch (Thiên khí), làm tăng hàm lượng oxy trong máu để nuôi dưỡng tế bào và đại não.
Tóm lại: Rèn luyện Chân khí quan trọng vì nó không chỉ chữa triệu chứng bên ngoài mà giải quyết gốc rễ của bệnh tật bằng cách nâng cao nội lực tự thân (sức đề kháng), khơi thông dòng chảy năng lượng (kinh lạc) và đảm bảo máu huyết nuôi dưỡng đầy đủ các cơ quan nội tạng.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Bạn có nhận ra, cứ đến mùa đông là cơ thể như biến thành “phiên bản yếu hơn”? Lạnh nhanh – mệt nhanh Dễ buồn – dễ cáu Ăn không ngon – bụng trệ Ngủ chập chờn Tay chân lạnh – tâm dễ trầm Kiệt sức mà chẳng hiểu vì sao?

Bạn có nhận ra, cứ đến mùa đông là cơ thể như biến thành “phiên bản yếu hơn”?
Đây không phải tính cách. Đây là thận khí yếu – dương hư – hàn xâm.
Và khoa học cũng xác nhận điều này:
🌨 Mùa đông = mùa cơ thể thu năng lượng vào trong để dưỡng gốc.
Trong Đông y, đây là mùa của Thận – mùa của:
Nhưng nếu ăn uống – sinh hoạt ngược mùa, cơ thể lập tức rơi vào hàn ngưng: khí trệ, máu chậm, tinh thần xuống, bụng lạnh, tim hồi hộp, giấc ngủ nông.
Quan trọng nhất:
Dù bạn ăn thịt hay ăn xanh, nếu khí – thận – hơi thở đều yếu, bạn vẫn lạnh như nhau.
Trung tiêu (tỳ vị – dạ dày) = Bếp.
Thận = Kho.
👉 Bếp ấm → Kho đầy → Người khỏe.
Nguyên tắc ăn mùa đông (cốt lõi nhất)
🔑 Ghi nhớ vàng:
Không có dạ dày ấm → Không có cơ thể ấm.
Nhóm thực phẩm màu đen – sệt – dính (Đông y: bổ Thận – dưỡng Tinh)
Tây y: tăng cường miễn dịch từ thực phẩm giàu polyphenols – khoáng – chất xơ: rau củ quả theo mùa, đặc biệt vỏ trái cây rau củ, gia vị.
Béo tốt giúp giữ ấm – nhưng phải ăn đúng thời điểm
Nguồn béo tốt: mè đen, cơm dừa, hạt điều – óc chó – hạnh nhân…tốt nhất nên dùng tươi hay nấu lửa thật thấp.
Béo đúng – ấm đúng – hormone ổn.
Mỗi món là một “bài thuốc” tự nhiên:
Mẹ mang thai, người có vết thương hở, trẻ nhỏ lưu ý dùng phù hợp.
Cố gắng tận dụng những ánh nắng hiếm hoi mùa đông.
Chỉ 10–15 phút tắm nắng cũng giúp:
Bụng – thận – rốn – eo = trung tâm năng lượng.
Chỉ cần lạnh một vùng, toàn thân suy giảm.
22h–3h là khung vàng cơ thể tự phục hồi — gan ấm, mật thông, thận được nuôi dưỡng sâu nhất.
Ngủ muộn = thận suy = cơ thể tụt dốc:
Nếu thức ăn là nhiên liệu, hơi thở là dòng điện vận hành cơ thể.
Mùa đông: lạnh → phổi co → thở nông → thận khí giảm → người lạnh.
Trong dưỡng sinh: vai – cổ – ngực = “cửa ngõ khí”.
Tắc tại đây → tuyến giáp giảm hoạt → tim nhanh → lo âu → trầm xuống.
Hơi thở sâu giúp:
4 bài thở – yoga phục hồi nên tập mỗi ngày
Nếu bạn ăn đúng mà vẫn mệt – lạnh – hụt hơi – khó ngủ…
90% là vì hơi thở nông.
Chỉ cần thở đúng, cơ thể tự chữa lành.
Chi tiết các bài tập thở bạn xem phần Reels trên page mình đã chia sẻ.
🌿 Kết – Mùa Đông Là Mùa Dễ Chữa Lành Nhất
Dưỡng sinh không phải một công thức.
Đó là nghệ thuật sống khớp với tự nhiên:
Khi bạn không thể kiểm soát công việc, deadlines, thời tiết…
Bạn vẫn còn một chiếc neo vững chãi: Hơi thở – Thiền – Biết ơn.
Nơi nào có hơi thở sâu, nơi đó có ấm áp.
Nơi nào có biết ơn, nơi đó có bình an.
📖 Tài liệu tham khảo:
(Nguồn: sưu tầm)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Tam Quan” là một thuật ngữ cổ trong Nội gia quyền và Đạo Gia khí công, khái niệm này rất ít khi được dùng trong Y học nhưng với người luyện Dưỡng Sinh không thể không biết về “Tam Quan” Khái niệm “Tam Quan” xuất hiện sớm nhất…
Tam Quan” là một thuật ngữ cổ trong Nội gia quyền và Đạo Gia khí công, khái niệm này rất ít khi được dùng trong Y học nhưng với người luyện Dưỡng Sinh không thể không biết về “Tam Quan”

Khái niệm “Tam Quan” xuất hiện sớm nhất trong Hoàng Đế Nội Kinh (thế kỷ 3 TCN), từ y học Đạo gia cổ đại, mô tả ba tắc nghẽn trên Đốc mạch gây bệnh tật (đau lưng, cao huyết áp, mất ngủ),
“Đốc Mạch giả, sở dĩ thông Tam Quan dã. Vĩ Lư Quan, Giáp Tích Quan, Ngọc Chẩm Quan, Tam Quan thông tắc Tiểu Chu Thiên thành, Tinh Khí quy nguyên.”
Trong cầu này Hoàng Đề Nội Kinh nói rõ Đốc mạch chính là để thông ba cửa ải. Cửa Vĩ Lư, cửa Giáp Tích, cửa Ngọc Chẩm; ba cửa thông thì Tiểu Chu Thiên thành tựu, tinh khí trở về nguyên điệu (đan điền).
Về sau này các kinh sách về Khí Công Dưỡng Sinh đều coi “Thông Tam Quan” là yếu tố kiên quyết để thông Đốc Mạch và tránh được nhiều bệnh tật. Các kinh sách nhấn mạnh: Thông Tam Quan thì khí huyết thông suốt, tinh thần minh mẫn, trường thọ (bách bệnh tiêu, tinh hóa khí). Không thông thì trăm bệnh sinh (thoát vị, tai biến, sinh lý yếu).
Trong Thư Đạo Toàn Tập, chương “Nội Đan Quyết” do Vương Mục Nhi biên soạn (khoảng 1700 SCN, đời Thanh) có ghi:
“Nội Gia Quyền, Tam Quan bất thông, tắc bách bệnh sinh; Tam Quan thông, tắc Tiểu Chu Thiên vận chuyển, Khí Huyết như giang hà bôn đăng.”
Dịch nghĩa: Nội gia quyền, ba cửa không thông thì trăm bệnh sinh; ba cửa thông thì Tiểu Chu Thiên vận hành, khí huyết như sông lớn cuồn cuộn.
Đầu tiên là Vĩ Lư quan:
Địa điểm xác định là từ huyệt Hội Âm lên đến đốt xương cùng S2–S3.
Theo kinh sách nếu Vĩ Lư Quan không thông có thể dẫn đến đau lưng dưới, thoát vị trĩ, lạnh chân, sinh lý yếu, tiểu đêm
Tiếp theo là Giáp Tích Quan:
Vị trí từ đốt sống D8 lên đến đốt sống D3 (khoảng 10–12 cm)
Nếu Giáp Tích Quan không thông có thể dẫn đến đau cổ vai gáy, hen suyễn, tim hồi hộp, tức ngực, mất ngủ, hay mơ
Tiếp theo là Ngọc Chẩm quan:
Vị trí từ đốt sống C2 lên đến Bách Hội trên đỉnh đầu (khoảng 8–10 cm) cũng có thể xác định từ Phong Trì lên Bách Hội
Nếu Ngọc Chẩm quan tắc nghẹn có thể dẫn đến đau đầu kinh niên, cao huyết áp, chóng mặt, mắt mờ, hay quên, ù tai.
1 – Vĩ Lư Quan: Ngồi xổm, tay ôm gối, cúi đầu xuống, nếu đau nhói xương cụt hoặc lạnh chân có nghĩa là đang tắc.
2 – Giáp Tích Quan: Đan hai tay sau lưng, kéo mạnh → nếu đau tức giữa hai bả vai, thở khó có nghĩa là tắc.
3- Ngọc Chẩm Quan: Ngửa cổ ra sau hết cỡ nếu chóng mặt hoặc đau sau gáy tắc.
GHI CHÚ: Cách thử chỉ mang tính tham khảo
Tuy nhiên “Tam Quan thông” ở người bình thường rất khác với những người luyện tập Khí Công dưỡng sinh:
Đối với người thường “thông” ở đây chỉ “thông thô” (mạch máu, thần kinh giao cảm) còn đối với người luyện tập Khí Công dưỡng sinh đã có thành đạt thì là “Thông tinh” (vi mạch, kinh lạc, cả Nhâm Đốc + 8 mạch kỳ kinh) mạch Đốc sẽ dễ dàng với mạch Nhâm thành vòng Tiểu Chu Thiên tự vận động.
Ngoài ra nói đến tuổi thọ thì người bình thường có thể sống thọ nhưng khi về già thì thường sức lực yếu. Còn người luyện tập Khí Công Dưỡng sinh đạt thành thì về già vẫn duy trì được sức mạnh dẻo dai như thanh niên.
Còn về bệnh tật thì khả năng phục hồi cũng nhanh hơn rất nhiều.
Trần Phát Khoa (Đại sư Trần thức Thái Cực quyền) có nói:
“Người thường thông Tam Quan là khỏe mạnh.
Nội gia thông Tam Quan là bất lão.”
Hầu hết các Môn khí công Đạo gia đều có “bí truyền” riêng để “thông Tam Quan” cho người luyện tập, nhưng cách Thông Tam Quan đều xoay quanh phối hợp bài tập Động công hợp lý với Tĩnh Công và Hít thở. Trong đó Trạm Trang và Ngồi Thiền (Tọa Thiền Thông Quan) là những phương thức hữu hiệu được dùng nhiều.
Nổi tiếng trong Hình Ý quyền có Tam thể thức, còn Thái Cực quyền và Bát quái chưởng thì đứng Hồn nguyên trang. Ngoài ra bên Đạo gia có cách ngồi kiết già hít thở, hoặc dùng Phúc tức..
Đặc biệt hơn là có nơi dùng Thụy Công để thông Tam quan.
Tóm lại, Thông Tam Quan là quá trình lâu dài, đòi hỏi luyện tập kiên trì tuy nhiên nếu đạt được kết quả hoàn toàn xứng đáng so với công sức bỏ ra.
(Nguồn: sưu tầm)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Trung y coi Tam tiêu “đường ống dẫn khí-thủy”, không có hình thể, nhưng có 3 chức năng vô cùng quan trọng: Hành khí (vận hành nguyên khí) Hành thủy (điều tiết tân dịch) Hóa thực (tiêu hóa, hấp thụ thực phẩm) Mô tả về Tam tiêu…

Trung y coi Tam tiêu “đường ống dẫn khí-thủy”, không có hình thể, nhưng có 3 chức năng vô cùng quan trọng:
“Tam tiêu giả, quyết đục chi quan, thủy đạo xuất yên” – trích dẫn Hoàng Đế Nội kinh. Giải nghĩa: Tam tiêu như quan lớn quản lý hệ thống cống dẫn nước toàn thân. Thủy dịch (tân dịch, huyết tương …) xuất phát và lưu thông nhờ tam tiêu.
“Tam tiêu giả, nguyên khí chi biệt sứ dã, chủ thông hành tam khí, kinh lịch ngũ tạng lục phủ.” – Trích dẫn Nan Kinh. Giải nghĩa: Nguyên khí (khí tiên thiên từ thận) phân công cho tam tiêu làm “sứ giả riêng” để vận hành, thông hành tam khí (Tam khí bao gồm: Tông khí, Dinh khí, Vệ khí). Tam tiêu xuyên suốt 5 tạng ( bao gồm: tim-gan-tỳ-phế-thận) và 6 phủ (đởm-vị-tiểu trường-đại trường-bàng quang-tam tiêu).
Vậy nếu tam tiêu thông thì thủy dịch lưu, không thấp uất, không phù nề. Nếu “trệ” thì thấp tà tích tụ, sinh bách bệnh (phù thũng, viêm khớp, mệt mỏi).
Như vậy muốn Dưỡng Sinh thì phải: Thông Tam tiêu
Tam Tiêu được chia thành ba tầng (thượng – trung – hạ), như ba lò luyện đan điều phối khí hóa và thủy dịch toàn thân.
Vị trí: Từ đỉnh đầu trở xuống đến ngang cơ hoành (bao gồm đầu, cổ, ngực, tim, phổi).
Sách xưa mô tả “Thượng tiêu như vụ” ý nói phún hóa tân dịch như sương mù phủ khắp thân, nuôi dưỡng da cơ, khai khiếu (mắt, tai, mũi).
Nếu Thượng tiêu “thông” thì thần thanh khí sảng, da dẻ hồng hào; nếu “trệ” thì ho hen, đầu choáng, cảm mạo.
Vị trí: Từ cơ hoành đến ngang rốn (bao gồm bụng trên, tỳ, vị, gan, mật).
Sách xưa mô tả Thượng tiêu “Như trần nạp” hoặc “Như âu” ý nói như bọt, sôi động, chuyển hóa., thấm ủ và chứa đựng. ( được ghi trong Hoàng Đế Nội Kinh)
Cách thức của Trung Tiêu là chậm rãi, thấm sâu, hóa sinh – không mạnh mẽ như thượng tiêu (phún vụ), không bài xuất như hạ tiêu (quyết đục) và cũng mềm mại, chứa đựng, nuôi dưỡng – nhấn mạnh “tỳ chủ vận hóa, vị chủ nạp thực”. ( ý nói hệ tiêu hoá bao gồm dạ dầy, ruột non, gan, tuỵ.. vừa có chức năng chứa đựng thức ăn vừa, vận chuyển, tiêu hoá).
Nếu Trung tiêu “thông” sẽ ăn ngon, khí huyết đầy; nếu “trệ” sẽ đầy bụng, khó tiêu, ợ chua.
Vị trí: Từ dưới rốn đến bàn chân (bao gồm bụng dưới, thận, bàng quang, đại trường, tiểu trường, sinh dục).
Sách xưa nói Hạ tiêu “Như quyết đục” ý nói như cống rãnh lớn – hình ảnh hạ tiêu dẫn đạo, bài xuất phế trọc. Chức năng của Hạ tiêu là phân thanh trọc (phân biệt trong-đục), thông điều thủy đạo như cống rãnh dẫn nước, bài xuất phế vật (phân, tiểu).
Nếu Hạ tiêu “thông” thì tiểu tiện thông, đại tiện điều hoà, chân nhẹ; nếu “trệ ” phù nề, táo bón, thận hư.
Muốn “Tam tiêu” thông có nhiều cách, trong đó có tập luyện khí công:
Thượng tiêu thông:
Trung tiêu thông:
Hạ tiêu thông:
Tóm lại: Vì Tam Tiêu là trung tâm điều hòa khí – thủy – thực của cơ thể, muốn dưỡng sinh hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải thông Tam Tiêu: để khí huyết lưu thông, tân dịch cân bằng, cơ thể nhẹ nhàng và khỏe mạnh từ trong ra ngoài.
(Nguồn: sưu tầm)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Cảnh giới cao nhất của Đông y là dưỡng sinh, cảnh giới cao nhất của dưỡng sinh là dưỡng tâm. Hạ sỹ dưỡng thân, trung sỹ dưỡng khí, thượng sỹ dưỡng tâm.

Cảnh giới cao nhất của Đông y là dưỡng sinh, cảnh giới cao nhất của dưỡng sinh là dưỡng tâm. Hạ sỹ dưỡng thân, trung sỹ dưỡng khí, thượng sỹ dưỡng tâm.
Khí để thông huyết, huyết để bổ khí, tuy hai mà một. Người sử dụng mắt nhiều ắt tổn thương huyết, nằm nhiều tổn thương khí, ngồi nhiều tổn thương thịt, đứng nhiều tổn thương xương, đi nhiều tổn thương gân, cho nên phải điều độ.
Con người không chỉ hô hấp qua mũi mà mỗi một lỗ chân lông trên thân thể đều hô hấp, hơn nữa những gì chúng hấp thụ là tinh hoa của trời đất.
Nhất thiết phải duy trì trạng thái đói khát mới có lợi cho dưỡng sinh. Đạo gia dạy “Hư” thì “Linh”, con người nhất thiết phải duy trì trạng thái “hư linh” mới có thể tỉnh táo, khỏe mạnh.
Con người và động vật giống nhau, động vật bệnh đều dựa vào bản thân mà tự hồi phục, con vật nhịn ăn và tìm lá thuốc trong tự nhiên, không có con vật nào bị ốm mà không bỏ ăn. Con người cũng có khả năng đó.
Muốn khỏe mạnh, nhất thiết phải làm cho cơ thể có đủ “khí” để “khí hóa” thức ăn nạp vào, chỉ có như thế thì mới không tích tụ cặn bã gây độc. Cần luyện các môn tĩnh công để gia tăng khí huyết.
Làm thế nào để có đại trí huệ nếu không có tấm lòng quảng đại. Con người hội tụ trí huệ không phải là từ trong sách mà là từ tâm thanh tịnh, thiền định mà sinh ra.
Sự khỏe mạnh, khởi đầu từ tâm tính vui, tu Phật đạt được sự vui vẻ, đó là sự hưởng thụ tối cao của đời người.
Đừng có ngày nào cũng nghĩ xem ăn cái gì để bổ âm, để tráng dương. Hãy nhớ kỹ, vận động mạnh là có thể sinh dương; tản bộ thì sinh âm.
Giờ Ngọ từ 11 giờ đến 13 giờ thuộc về Tâm, giờ này tản bộ 15 phút, nhắm mắt dưỡng thần, tâm khí ắt khỏe mạnh.
Vận động có hai tác dụng:
Vận động thích hợp giúp khí huyết lưu thông nhưng đồng thời cũng tiêu hao khí huyết, cho nên cần điều độ.
Khi vận động có 2 cấm kỵ:
Mới khỏi bệnh cần tránh cắt tóc, rửa chân, tắm, gội.
Khởi nguồn của bách bệnh đều bắt nguồn từ việc bị gió độc xâm nhập. Nếu thân thể suy nhược, làm việc lao lực thì chân khí bị hao tổn, từ đó tà thừa cơ tấn công.
Trên thế gian tuyệt đối không có hiện tượng đang khỏe mạnh đột nhiên sinh bệnh. Nếu yêu cầu bệnh nhân tự soi bản thân trước khi ốm thì đều đã trải qua vài lần thức thâu đêm, áp lực công việc quá lớn, mất ngủ, trúng gió lạnh, ăn đồ lạnh, dính mưa…
Ngủ là yếu tố quan trọng nhất của dưỡng sinh. Thời gian ngủ tốt nhất là từ 21h đến 3h sáng. Thời gian đó là “mùa đông” của ngày, mùa đông là ẩn tàng, đông không ẩn tàng thì mùa xuân, hạ sẽ không thể phát triển tốt.
Giờ Tý từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng mà không ngủ thì thủy thận thiếu, thủy thiếu ắt hỏa vượng tổn hại tới tinh và thần.
(Trích di huấn của đại lão Trung y 112 tuổi)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Khí công không chỉ là một bộ môn tập luyện cổ xưa mà ngày càng được tích hợp một cách linh hoạt và hiệu quả vào đời sống hiện đại, giúp con người đối phó với những áp lực và thách thức của nhịp sống nhanh.
Khí công không chỉ là một bộ môn tập luyện cổ xưa mà ngày càng được tích hợp một cách linh hoạt và hiệu quả vào đời sống hiện đại, giúp con người đối phó với những áp lực và thách thức của nhịp sống nhanh. Dưới đây là những khía cạnh chi tiết về khí công trong đời sống hiện đại:
Với lịch trình dày đặc, nhiều người nghĩ rằng không có đủ thời gian để tập khí công. Tuy nhiên, khí công hiện đại khuyến khích việc tích hợp các bài tập nhỏ, ngắn vào các khoảng trống trong ngày:
Đời sống hiện đại đi kèm với áp lực công việc, tài chính, xã hội, dễ dẫn đến căng thẳng, lo âu, thậm chí trầm cảm. Khí công cung cấp một giải pháp hiệu quả:
Một tinh thần minh mẫn và cơ thể khỏe mạnh là yếu tố then chốt cho hiệu suất làm việc cao:
Trong xã hội hiện đại, việc duy trì một lối sống cân bằng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Khí công đóng vai trò là một trụ cột:
Khí công đang trở nên dễ tiếp cận hơn bao giờ hết nhờ công nghệ:
Khí công không chỉ là một phương pháp tập luyện mà còn là một lối sống, một triết lý giúp con người hiện đại tìm thấy sự cân bằng, sức khỏe và bình an trong một thế giới đầy biến động. Bằng cách tích hợp khí công vào các hoạt động hàng ngày, bất kỳ ai cũng có thể gặt hái những lợi ích to lớn mà nó mang lại.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Thuyết Ngũ Hình (Long – Xà – Hổ – Báo – Hạc) trong Thiếu Lâm quyền có mối liên hệ chặt chẽ với Ngũ Tạng (Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận) và Ngũ Hành, nhưng cách tương ứng có thể khác biệt đôi chút so với hệ thống trong Hình Ý Quyền…
Thuyết Ngũ Hình (Long – Xà – Hổ – Báo – Hạc) trong Thiếu Lâm quyền có mối liên hệ chặt chẽ với Ngũ Tạng (Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận) và Ngũ Hành, nhưng cách tương ứng có thể khác biệt đôi chút so với hệ thống trong Hình Ý Quyền (Long – Hổ – Hầu – Mã – Xà). Dưới đây là cách ứng hợp phổ biến trong Thiếu Lâm Ngũ Hình quyền:





Tóm tắt ứng hợp trong Thiếu Lâm Ngũ Hình:
Lưu ý quan trọng:
Kết luận: sự tương ứng Long-Xà-Hổ-Báo-Hạc với Thận-Tâm-Phế-Can-Tỳ là chính xác và phản ánh đặc trưng của hệ thống Ngũ Hình trong Thiếu Lâm quyền.
(Nguồn: sưu tầm)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Trong hệ thống lý thuyết Đông y và võ thuật truyền thống Trung Hoa (cũng như nhiều môn võ Đông Á khác), ngũ tạng ( – Wǔ Zàng) có mối liên hệ chặt chẽ và tương ứng với ngũ hành ( – Wǔ Xíng).
Trong hệ thống lý thuyết Đông y và võ thuật truyền thống Trung Hoa (cũng như nhiều môn võ Đông Á khác), ngũ tạng (Wǔ Zàng) có mối liên hệ chặt chẽ và tương ứng với ngũ hành (Wǔ Xíng). Đây là nền tảng quan trọng cho việc rèn luyện sức khỏe, nội công, và cả trong cách thức vận động, chiến đấu.
Tóm lại: Mối liên hệ giữa Ngũ Tạng và Ngũ Hành là một phần không thể tách rời trong triết lý và thực hành của võ thuật truyền thống Trung Hoa, giúp kết nối việc rèn luyện thể chất với sự điều hòa nội tạng, tinh thần và năng lượng bên trong, hướng đến sự hài hòa toàn diện giữa con người và vũ trụ.
(Nguồn: sưu tầm)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Khí công là một phương pháp luyện tập và thiền định cổ xưa của Trung Quốc, kết hợp giữa chuyển động, hơi thở và tập trung tinh thần để cải thiện sức khỏe, tăng cường thể lực và tinh thần.
Khí công là một phương pháp luyện tập và thiền định cổ xưa của Trung Quốc, kết hợp giữa chuyển động, hơi thở và tập trung tinh thần để cải thiện sức khỏe, tăng cường thể lực và tinh thần. Nó được coi là một phần quan trọng của y học cổ truyền Trung Quốc.
Thiếu Lâm Khí Công Nội Kình Nhất Chỉ Thiền là một môn khí công độc đáo. Nó có nguồn gốc từ chùa Thiếu Lâm ở Phúc Kiến, Trung Quốc. Công pháp này đã được sàng lọc và bổ sung qua nhiều triều đại trong hàng trăm năm, trở thành một công pháp thượng thặng được giới võ lâm suy tôn.
Môn khí công này không giống với các bài Thiếu Lâm động công hay tĩnh công khác, mà là một môn phái riêng biệt kết hợp cả động công, tĩnh công, cạnh kỹ và kỹ kích. Điểm đặc biệt trong huấn luyện là công pháp này không quá nhấn mạnh việc nhập tịnh hay thủ ý (tập trung ý niệm) ban đầu, nhưng lại đòi hỏi sự chính xác nghiêm ngặt về tư thế và thứ tự động tác…. Dù không cần thủ ý hay nhập tịnh lúc bắt đầu, người tập vẫn có thể đạt được trạng thái an định, ngừng tạp niệm (Thiền) một cách tự nhiên khi đã có “khí cảm”.
Mục đích của việc luyện tập công pháp này là khơi thông kinh lạc, điều chỉnh khí huyết trong cơ thể, giúp âm dương cân bằng, phủ tạng điều hòa2. Nhờ đó, nó có tác dụng phòng chữa bệnh, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và giúp tinh, khí, thần, lực hợp nhất. Nguyên tắc luyện công là “mọc rễ trong đất, tăng kình trong thân, luyện khí nơi phủ tạng và tiếp thu dinh dưỡng của trời đất”.
Qua quá trình rèn luyện kiên trì, trình độ công phu sẽ ngày càng thâm hậu. Người tập không chỉ có thể “ngoại khí nội thu” (hấp thụ khí từ ngoài vào) mà còn có thể “nội khí ngoại phóng” (phóng khí từ trong ra ngoài) để đạo dẫn chữa bệnh cho người khác…. Khí ngoại phóng của công pháp này được cho là có hiệu quả tốt trong trị liệu các bệnh chấn thương xương, thần kinh, nội khoa và cả các bệnh nan y khác.
Các khái niệm chính trong tên gọi của môn phái này:
•Nội kình: Là năng lượng hoạt động bên trong cơ thể, là cơ sở vật chất của hoạt động sinh mạng và là tiềm lực ẩn náu trong cơ thể con người.
•Thiền: Chữ Phạn nghĩa là an định, gạt bỏ các tạp niệm. Trong công pháp này, trạng thái Thiền đạt được thông qua việc duy trì tư thế chính xác và sự tự nhiên khi “khí cảm” xuất hiện.
•Nhất chỉ: Có nghĩa là trong quá trình luyện công, nhất thiết phải có sự huấn luyện đặc biệt mang tính mấu chốt, đó là sự rèn luyện có hệ thống, có quy luật các động tác ban động và án động của mười ngón tay và mười ngón chân. Mười ngón tay và mười ngón chân là nơi khởi đầu và kết thúc của 12 chính kinh trong cơ thể, và có liên quan đến bát mạch kỳ kinh. Sự cử động của ngón tay và chân không những có thể tích lũy “nội kình”, điều tiết giải phóng “nội kình”, mà còn giúp đơn giản hóa công pháp và rút ngắn thời gian luyện công, đạt hiệu quả gấp đôi. “Ban chỉ pháp” là công pháp đặc sắc và then chốt nhất của “Nội kình nhất chỉ thiền”.
Công pháp này được truyền dạy bởi cố sư Khuyết A Thủy. Cụ Khuyết A Thủy xuất thân từ gia đình nghèo ở Giang Tô, đi tu tiểu từ năm 7 tuổi và học võ thuật tại chùa Thiếu Lâm Phúc Kiến với sư Đỗ Thuận Bưu. Sau 18 năm khổ luyện, cụ đạt được tuyệt kỹ thần công và được mật truyền bí quyết “Nội kình nhất chỉ thiền”. Sau này, cụ Khuyết A Thủy đã mở cửa truyền dạy rộng rãi công pháp này. Cụ đã cộng tác với các nhà khoa học để nghiên cứu khí công bằng phương tiện khoa học hiện đại…, giúp lột bỏ vỏ bọc thần bí của khí công và mở ra kỷ nguyên mới cho nghiên cứu khoa học về khí công. Các thành tựu thực nghiệm về “khí” trong “Nội kình nhất chỉ thiền” của cụ và con trai Khuyết Xảo Căn đã được ghi chép trong các sách khoa học kỹ thuật.
Thầy Vương Thụy Đình là đệ tử chân truyền của cụ Khuyết A Thủy. Ông đã học tập và khổ luyện hơn 20 năm để nắm vững tinh túy của “Nội kình nhất chỉ thiền”. Ông đã nhiệt tình truyền dạy công pháp này và giúp hàng nghìn người chữa khỏi bệnh. Trên cơ sở công pháp này, thầy Vương đã tổng kết nên bộ “Nhiệt thân pháp” và “Nội kình trạm trang công”. “Nội kình trạm trang công” được coi là công pháp sơ cấp, là nền tảng cơ bản (trúc cơ công). Công pháp này kết hợp giữa “Nội kình nhất chỉ thiền” với võ thuật nội gia quyền Trung Hoa, dễ tiếp thu cho người mới học và giúp đắc khí nhanh.
Tóm lại, Thiếu Lâm Khí Công Nội Kình Nhất Chỉ Thiền là một môn khí công cổ truyền từ Thiếu Lâm Phúc Kiến, độc đáo ở sự kết hợp động – tĩnh, tập trung vào luyện “nội kình” và khả năng “ngoại khí ngoại phóng” thông qua các động tác cụ thể, đặc biệt là “ban chỉ pháp” (tập các ngón tay và chân), không quá chú trọng vào nhập tịnh ban đầu. Nó được truyền dạy bởi cụ Khuyết A Thủy và phát triển/truyền bá bởi học trò Vương Thụy Đình, được nghiên cứu khoa học và công nhận về hiệu quả chữa bệnh và nâng cao sức khỏe.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Theo quan niệm của y học cổ truyền, dưỡng sinh là sự kết hợp hài hòa giữa bốn phương diện: lối sống, chế độ ăn uống, thái độ tinh thần và phương pháp rèn luyện thân thể.
Theo quan niệm của y học cổ truyền, dưỡng sinh là sự kết hợp hài hòa giữa bốn phương diện: lối sống, chế độ ăn uống, thái độ tinh thần và phương pháp rèn luyện thân thể.
Theo quan niệm của y học cổ truyền (YHCT), con người mắc bệnh là do mất cân bằng âm dương, điều trị bệnh là quá trình tái lập lại sự cân bằng đó. YHCT cũng cho rằng dưỡng sinh có ý nghĩa rất quan trọng trong điều trị bệnh và trong cuộc sống thường nhật của con người. Đó là sự kết hợp của bốn yếu tố: cách sống (thích nghi để phù hợp với hoàn cảnh, môi trường); thực dưỡng; điều dưỡng tinh thần; rèn luyện thân thể. Sống đúng tinh thần dưỡng sinh được xem là phương pháp phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe tốt nhất.
Theo triết lý Đông phương, cách sống phù hợp và cân bằng âm-dương là cách sống thích nghi, thích hợp với từng hoàn cảnh và môi trường. Như vậy, một phần quan trọng của quy tắc dưỡng sinh là thích ứng với âm dương của bốn mùa để phòng bệnh cũng như sự thích nghi của cơ thể với những thay đổi của thời tiết.
Thực dưỡng nghĩa là điều tiết trong ăn uống và sinh hoạt. Trong ăn uống nên điều độ, tránh ăn quá no hoặc quá đói, quá thừa hoặc thiếu chất, ăn không đúng giờ hoặc lạm dụng chất kích thích, rượu bia. Làm việc và nghỉ ngơi có chừng mực, không lao lực một cách bừa bãi. Ai cũng biết thức ăn là nguồn cung cấp chính cho sự tồn tại và phát triển con người. Người xưa có câu “bệnh từ miệng mà vào”, cho thấy ý thức ăn uống góp phần không nhỏ trong việc hình thành các bệnh lý ở con người.
Theo YHCT, thực dưỡng là phương pháp ăn uống để nuôi dưỡng con người, sống khỏe. Vì vậy, không ăn các món ăn quá chua, quá mặn, quá ngọt, quá đắng hay quá cay vì những loại thức ăn này khi được dùng quá nhiều, hay quá ít một cách thường xuyên đều gây tổn hao khí của các tạng phủ. Trong ăn uống, cần đủ chất và cần chú ý để điều hòa ngũ vị.
Bên cạnh đó, việc lựa chọn các loại thức ăn nên theo mùa, mùa nào thức nấy. Mỗi loại cây cũng phát triển theo quy luật âm dương, cũng có kỳ thịnh kỳ suy, mỗi cây có một mùa riêng. Dùng các loại thức ăn theo từng mùa là phù hợp với sự thay đổi, chuyển hóa của tự nhiên. Như vậy, cơ thể sẽ hấp thu tốt nhất các chất dinh dưỡng thức ăn đó mang lại. Ví dụ mùa thu dễ sinh các chứng rối loạn tiêu hóa – hấp thu. Do đó, mùa thu nên ăn canh khoai mỡ nấu tép hoặc canh củ sen nấu với giò heo, canh đậu phộng nấu với xương… và không nên ăn dưa xanh, cà sống dễ bị tiêu chảy.
Rèn luyện tinh thần, ý chí cũng là một phần của dưỡng sinh. Giữ gìn sự ổn định đầy đủ về mặt tinh thần, là bảo dưỡng tinh khí tốt. Các nguyên nhân gây bệnh từ môi trường có thể xâm nhập nhưng tinh khí sung mãn, sức đề kháng vững vàng, bệnh tật sẽ bị đẩy lui.
Việc tập luyện theo phép dưỡng sinh cũng cần phù hợp với sự thay đổi của từng mùa, của thời tiết cũng như thể chất của từng cá thể. Tập luyện dưỡng sinh cần duy trì và theo từng nấc, từng bậc. Tránh luyện tập quá sức hay trong điều kiện bất lợi cho cơ thể vì không những không dưỡng sinh được mà còn tạo điều kiện cho các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể.
Một nguyên tắc dễ dàng có thể áp dụng cho mọi mùa là mỗi sáng nán lại một chút trên giường, khởi động co duỗi chân tay thân mình, hít thở sâu và tróc lưỡi thành tiếng trước khi bước xuống giường. Hằng ngày nên cố gắng đi bộ, vận động những lúc rảnh rỗi nhằm giúp lưu thông máu huyết dễ dàng nuôi dưỡng não và toàn thân.
Vì vậy, có thể nói dưỡng sinh là một phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Thực hiện dưỡng sinh cần chú ý ở tất cả các mặt từ tinh thần, ăn uống, sinh hoạt, tập luyện. Việc dưỡng sinh có thể thay đổi trên từng cá thể nhưng cần tuân theo quy luật âm dương, sự dung hòa giữa cơ thể và sự thay đổi của đất trời, khí hậu.
Theo quan điểm của Tuệ Tĩnh, để khỏe mạnh và trường thọ cần duy trì, gìn giữ chân – nguyên – khí và phát triển tam bảo của sức khỏe là tinh – khí – thần (ba dạng vật chất tạo nên cấu trúc cơ thể người). Phải thực hiện phép dưỡng sinh đó là “bế tinh, dưỡng khí, tồn thần, thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”.
(Nguồn: sưu tầm)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Nhà văn Dickens đã từng nói: “Một người có tâm thái tốt, còn mạnh hơn 100 lần so với một người có trí tuệ cao.” Thái độ sống tích cực chính là liều thuốc giúp ta chữa lành mọi thứ, giúp chúng ta bình tĩnh đối mặt với những thăng…

Nhà văn Dickens đã từng nói: “Một người có tâm thái tốt, còn mạnh hơn 100 lần so với một người có trí tuệ cao.”
Thái độ sống tích cực chính là liều thuốc giúp ta chữa lành mọi thứ, giúp chúng ta bình tĩnh đối mặt với những thăng trầm cuộc sống và sự thay đổi của năm tháng.
Người có tâm trạng tốt, nhìn đâu cũng thấy ánh sáng, tim luôn chứa chan hi vọng.
Người luôn buồn phiền, dễ tự sa mình vào vũng bùn của sự thất vọng, đau khổ, không thể tự giải thoát cho chính mình.
Thực tế luôn là như vậy, nhân sinh cứ 10 việc đã có đến 8, 9 việc không được như ý. Vậy làm thế nào để vượt qua nó?Tâm khoáng đạt, mở rộng lòng, sống thoải mái, lạc quan hơn. Chỉ cần tâm lý tốt, mọi chuyện sẽ dần ổn.
Nhà triết học Schopenhauer nói rằng: “Sai lầm lớn nhất mà nhiều người mắc phải là dùng sức khỏe để đổi lấy những vật ngoài thân.”
Đây chẳng phải là chân dung thực tế của rất nhiều người đang bôn ba ngoài xã hội hay sao?
Nửa đầu cuộc đời, lao mình vào kiếm tiền, dùng sức khỏe đánh đổi từng đồng. Nửa sau cuộc đời, lại dùng số tiền kiếm được để đánh đổi chiếc giường “đắt giá” nhất: giường bệnh!
Một nữ diễn viên xuất đạo đã 25 năm, và cô ấy đóng phim không ngừng nghỉ kể từ khi được ra mắt. Thế nên bị mọi người coi là “kẻ cuồng công việc”.
Cách đây không lâu, cô ấy đã thẳng thắn chia sẻ trên một show truyền hình thực tế rằng: “Em không thể ngược đãi bản thân nữa, nó sắp không trụ nổi…”
Nhiều người coi tuổi trẻ là tiền vốn, nhưng cơ thể con người đâu phải bằng sắt thép, bạn không yêu quý nó, sau này nó sẽ quay lại phá hủy chính bạn.
Bệnh tật thường là do lâu ngày tích tụ mà thành, không phải một sớm một chiều là có. Nếu thật sự ngã bệnh, e rằng dù y học có phát triển đến đâu, cũng khó lòng làm bạn khỏe mạnh như lúc ban đầu.
Người thông minh luôn nắm quyền chủ động “kiểm soát” sức khỏe trong tay họ. Bởi vì họ hiểu được, bác sĩ tốt nhất luôn là chính mình, và y học chỉ là tuyến phòng thủ cuối cùng của cuộc đời mà thôi.
Có một tâm trạng vui vẻ, bình an thì hệ miễn dịch của cơ thể mới có thể hoạt động tốt được, từ đó cơ thể có hàng rào mạnh mẽ để chống đối lại bệnh tật.
Như câu: “Chính nghĩa trong lòng, cái ác cũng không làm gì được.”
Vậy nên tâm lý mới là “chủ nhân” thực sự cho sức khỏe và cuộc sống của chúng ta. Nó có thể tạo nên thành tựu cho một người, cũng có thể hủy đi họ.
Trên thế giới này có quá nhiều cám dỗ: cảnh đẹp, thức ăn ngon, cuộc sống xa hoa… Nhưng muốn đi hết con đường dài phía trước, bạn phải biết điều chỉnh tâm thái cho thích hợp, hãy bình tĩnh trong mọi hoàn cảnh, sống chậm lại, và nhìn những bước chân còn in dấu sau lưng bạn.
Bạn xứng đáng được hạnh phúc, hãy giữ sức khỏe luôn ở mức tốt nhất, chỉ có chính bạn mới là vị bác sĩ hoàn hảo nhất cho chính mình.
Cách dưỡng sinh tốt nhất là luôn giữ cho trái tim của bạn ở “trình độ” an nhiên.
Chỉ cần tâm bao dung với mọi chuyện, không tính toán chuyện nhỏ, không bận tâm quá nhiều về biến cố lớn, như vậy thân thể không cần dùng thuốc cũng có thể tự nhiên khỏe mạnh.
Bởi vì tâm trạng tốt là liều thuốc rẻ nhất và hiệu quả nhất.
Năm 2007, người dẫn chương trình xinh đẹp và tài năng Chu Tấn đột nhiên chẩn đoán ra bản thân mắc bệnh ung thư tuyến giáp.
Tuy nhiên, cô ấy đã chiến đấu chống chọi với bệnh tật bằng một thái độ lạc quan, cởi mở, kiên trì bền bỉ, mạnh mẽ, và nhờ đó đến bây giờ cô ấy vẫn còn đứng trên sân khấu với vẻ ngoài đầy sức sống.
Trong cuốn tự truyện “A Tấn” của mình, cô ấy có viết: “Bệnh lâu thành thầy thuốc, từ đó bạn có thể tự mình học được rất nhiều thứ. Tôi rất thích cười, nếu tôi nói tiếng cười có thể chữa bách bệnh, bạn có tin không? Khi đau ốm, đừng giận, đừng than, đừng tự trách, đừng từ bỏ, cũng đừng tự hù dọa làm chính mình sợ hãi.Việc nên đến sớm muộn cũng sẽ đến, có muốn trốn chạy cũng không được.”
Những người bệnh ung thư muốn sống qua ngày hạnh phúc, không phải dựa vào việc hóa trị hay các loại thuốc nhập khẩu cao cấp đắt tiền, bởi vì chúng chỉ làm cơ thể họ yếu dần và mệt mỏi. Điều quan trọng là luôn duy trì thái độ sống tích cực, như vậy sức mạnh tiềm ẩn của họ mới bùng nổ vô hạn.
Phiền muộn xuất phát từ tâm, giải tỏa nó, cuộc đời dù tì vết vẫn trở thành những vần thơ đẹp.
“Nếu tâm lý thay đổi, thái độ sống nhất định cũng sẽ thay đổi. Thái độ thay đổi, thói quen cũng sẽ thay đổi. Thói quen thay đổi, tính cách cũng sẽ thay đổi theo. Tính cách thay đổi, cuộc sống mới nở hoa…”
Một người mang tâm lý như thế nào sẽ sống cuộc đời như thế ấy.
Nếu trái tim bạn có ngọn lửa nhiệt huyết, nó sẽ tỏa ra ánh sáng và đem đến cho bạn ấm áp.
Nếu trái tim bạn là một tảng băng, nó sẽ đông lạnh và khiến bạn luôn cảm thấy tương lai mịt mờ.
Có một người tài xế taxi suốt ngày phàn nàn về thời tiết xấu, thu nhập ít ỏi, đường hay kẹt xe… Thế nên, ngày nào anh ta cũng cảm thấy tồi tệ vô cùng.
Cuối cùng đến một ngày nọ, anh ta cũng hiểu ra: Thay vì suốt ngày than vãn, tốt hơn hết hãy thay đổi bản thân.
Khi tâm lý trở nên tốt hơn, thế giới cũng trở nên rộng lớn hơn.
Sau này, anh ấy luôn đối đãi với khách hàng bằng nụ cười, nhờ vậy được nhiều người yêu mến, lượng thu nhập tăng gấp đôi, khách quen cũng ngày một nhiều.
Không chỉ thế, nhờ thái độ quan tâm, thấu hiểu, nên khách hàng luôn đánh giá năm sao cho anh ấy mỗi khi đi taxi anh ấy chở.
Thái độ sống tích cực đúng là chìa khóa của hạnh phúc, có được nó sức khỏe và sự giàu có mới song hành được.
Tất nhiên, thái độ cởi mở cần trải qua nhiều năm kinh nghiệm để thấu hiểu đạo lý và thay đổi, chứ không thể tự nhiên mà có.
Hãy để thế giới ồn ào và những lời gièm pha, chế giễu bạn chìm vào tĩnh lặng, thay vào đó là một trái tim bình yên, thấu tỏ mọi thứ.
(Nguồn: sưu tầm)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Theo y học cổ truyền, đan điền Tinh là “sinh khí chi hải” (biển của sinh khí), Vì vậy, luyện thở đan điền làm cho dòng năng lượng trong người luôn xuôi chảy đều đặn và thông thoáng.

Theo y học cổ truyền, đan điền Tinh là “sinh khí chi hải” (biển của sinh khí),
Vì vậy, luyện thở đan điền làm cho dòng năng lượng trong người luôn xuôi chảy đều đặn và thông thoáng. Do đó khí huyết luôn lưu hành, kinh lạc thông suốt, âm dương quân bình, thủy hỏa tương tế làm cho năng lượng trong cơ thể luôn quân bình và tăng trưởng để thích nghi cao nhất với tự nhiên. Nó có tác dụng phòng bệnh, trị liệu, phục hồi chức năng, đem lại sức khỏe và tuổi thọ.
Chuẩn bị: Ngồi tư thế kết già hoặc bán kiết già, bắt chân trái lên trước hay chân phải lên trước (gọi là Hàng ma tọa hay Cát tường tọa). Cột sống luôn thẳng, toàn thân mềm. Hai tay đặt ngửa (nam tay trái lên trên, nữ tay phải lên trên. Hai ngón tay cái chạm nhau).
Kích hoạt nội đan: Theo dõi hơi thở tại đan điền, biết bụng phình ra và hóp vào. Quá trình này có dụng công nhẹ để làm ấm nóng đan điền và khí vận hành rõ trong nội đan.
Khai mở Mệnh môn: Khi hít vào nhận biết đan điền (dưới rốn 3cm). Khi thở ra quán chiếu và theo hơi thở đẩy năng lượng sang Mệnh môn (đối diện với đan điền ở phía thắt lưng) một vài hơi thở thấy Mệnh môn căng tức như bị đè nén.
Tiếp tục theo dõi hơi thở và lan tỏa năng lượng thì một lúc sau ta thấy vùng thắt lưng xuất hiện hơi ấm tăng dần cho đến khi có dòng nóng ấm xông lên cột sống, làm cho vùng lưng trên ấm dần (hiện tượng thông lửa). Cảm giác lúc này sống lưng như giãn ra và kéo dài, vùng thắt lưng nhẹ bẫng. Lúc này, Mệnh môn đã mở rộng hơn, việc tiếp nhận và lan tỏa năng lượng sẽ dễ dàng và thông thoáng hơn.
Khai mở Hội âm: Hít và nhận biết đan điền, khi thở ra quán chiếu và đẩy năng lượng xuống Hội âm (tâm lực này là khoảng rỗng như quả trứng ở giữa bộ phận sinh dục và hậu môn). Qua một số hơi thở ta thấy vùng Hội âm giãn mở, năng lượng dao động nhẹ nhàng như làn sóng tròn (như khi ta ném viên sỏi xuống nước).
Tiếp tục theo dõi hơi thở và quán chiếu năng lượng ta sẽ thấy cảm giác khí (Khí cảm) rõ hơn, tại vùng Hội âm như lỏng ra và dần dần như rỗng. Vùng Hội âm sẽ cảm thấy mát dần và khí xông lên sẽ làm cho vùng thắt lưng có cảm giác mát nhẹ nhàng như thoa dầu bạc hà và như bong bóng xà phòng loang dần về hai thận. Như vậy, Hội âm đã giãn mở rộng hơn, địa khí xông lên hai thận dễ dàng, sẽ làm vượng khí ở thận.
Xoay chuyển nội khí trong hạ đan điền: Khi hít vào ta dẫn khí từ Hội âm lên Mệnh môn, dừng lại một chút. Tiếp tục hít đẩy khí sang khí hải (huyệt dưới rốn độ 3cm), dừng lại một chút. Khi thở ra đẩy năng lượng xuống Hội âm. Quá trình này cũng như toàn bộ công pháp, đều mượn hơi thở để khai mở các tâm lực và dẫn năng lượng. Bước này sẽ làm cho nội khí trong đan điền mạnh hơn và sẽ tăng cường năng lượng để thông hoạt hai thận.
Thủy hỏa ký tế: Khi hít vào dẫn năng lượng từ Ấn đường xuống đan điền. Thở ra quán chiếu đẩy năng lượng sang Mệnh môn. Chỉ cần dẫn dắt một số hơi thở, năng lượng một đi xuống, một xông lên rất rõ ràng. Năng lượng từ Thượng đan xuống đan điền sẽ nối thẳng xuống Hội âm và năng lượng từ Mệnh môn sẽ tiếp nối với năng lượng từ Hội âm xông lên tạo thành một vòng khép kín. Lúc này hãy dụng công nhẹ hơn để vận chuyển khí, sau một số nhịp thở thì chu thiên khí tự vận hành mạnh mẽ, đường xuống đường lên rõ ràng. Khi đó đỉnh não sẽ xuất hiện một ổ hưng phấn nhỏ và phần bụng dưới khí lực lan tỏa mạnh hơn. Hơn nữa, Tâm hỏa tàng thần và Thận thủy tàng tinh sẽ kết nối với nhau hòa hợp hơn, mạnh mẽ hơn.
Giới khí nội quan: Khi hít vào ta cảm nhận năng lượng từ đan điền lan tỏa toàn thân. Khi thở ra ta cảm nhận năng lượng toàn thân quy về đan điền. Hoặc chúng ta có thể thở ngược lại như sau: Khi thở ra cảm nhận nặng lượng từ đan điền lan tỏa toàn thân và khi hít vào ta cảm nhận năng lượng thu quy về đan điền. Hai cách này đều chỉ dùng tinh thần và hơi thở để dẫn dắt năng lượng. Qua phép thở này toàn thân sẽ ấm nóng và năng lượng sẽ lan tỏa đều trong toàn thân.
Kết quả: Qua phép thở này mọi trược khí trong người sẽ ra ngoài và tiếp nhận năng lượng mới của vũ trụ. Cơ thể sẽ khỏe hơn, sinh lực sẽ dồi dào hơn, trí tuệ sáng suốt hơn, tâm sẽ thanh tịnh hơn. Đây là 1 trong 3 phép thở cao nhất trong Thánh tức (Tịnh tức). Tức là hơi thở Dũng tuyền, hơi thở Đan điền và hơi thở qua da.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Thời gian gần đây, trên nhiều diễn đàn và ở một số khu vực, người dân đang truyền tay nhau một bộ bí quyết sống gồm 27 điều được cho là do tổ tiên chúng ta đời xưa truyền lại nhằm làm bảo bối dưỡng sinh.
Thời gian gần đây, trên nhiều diễn đàn và ở một số khu vực, người dân đang truyền tay nhau một bộ bí quyết sống gồm 27 điều được cho là do tổ tiên chúng ta đời xưa truyền lại nhằm làm bảo bối dưỡng sinh.

Trong đó, nội dung chủ yếu bao gồm những lời khuyên về các kinh nghiệm, quy tắc trong cuộc sống hàng ngày như ăn, ngủ, nghỉ, làm việc…
“Tôi thấy có mấy người bạn cùng tổ sinh hoạt đưa cho và theo dõi qua 27 điều này thì thấy đây đúng là những kinh nghiệm rất quý từ ông cha ta truyền lại. Tôi đã học tập làm theo được một số điều và qua việc thực tập theo các điều đấy thì thấy mình sống điều độ hơn, sức khỏe có phần tốt dần lên”, bà Nguyễn Thị Dung (Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội) cho hay.
Còn theo ông Nguyễn Thanh Vân (Bắc Từ Liêm, Hà Nội) chia sẻ, qua việc học theo bí kíp 27 điều này đã giúp cho ông đỡ hẳn bệnh đau dầu.
“Trước đây, tôi có bị đau đầu khá thường xuyên nhưng sau khi theo dõi và học các điều trong 27 bí kíp dưỡng sinh thì tôi ít suy nghĩ đi, tối ngủ đúng giờ, sáng dậy sớm, tập thể dục, ăn uống điều độ, không rượu, bia, thuốc lá… Nhờ đó mà bệnh đau đầu đỡ hẳn, sức khỏe cũng tốt hơn”, ông Vân nói.
Trao đổi với chúng tôi xung quanh bộ 27 điều bí quyết này, Thạc sĩ – Bác sĩ Nguyễn Xuân Giao, nguyên trưởng phòng Đông y Thực nghiệm – Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương cho rằng, đây là những lời khuyên được rút ra từ kinh nghiệm sống trong dân gian cũng như phép dưỡng sinh. Ví dụ như tối ngủ rửa chân hơn uống thuốc bố chính là việc ngâm chân trước khi đi ngủ giúp thư giãn, tinh thần sảng khoái, giấc ngủ ngon hơn… Hay không nên cáu, giận dễ già. Tranh cãi buổi tối, ruột như sát muối…
Những lời khuyên này rất hữu ích và nếu thực hiện được theo đúng các điều này này sẽ giúp con người sống phù hợp, cân bằng và tốt cho sức khỏe.
Ông Giao cũng phân tích thêm với lời khuyên muốn ngủ để tấm thân nhẹ nhõm, chân không hướng Tây, đầu không hướng Đông là bởi lẽ, trong đông y thì chân là âm, dầu là dương. Mà Đông là nơi mặt trời mọc, Tây là nơi mặt trời lặn tức là một bên dương sinh và một bên dương thịnh.
Nếu nằm như chân hướng Tây, đầu hướng Đông sẽ không cân bằng âm dương hay nói cách khác là dương nhiều quá. Vì vậy, cần quay chỉnh để cho cân bằng, hài hòa âm dương, từ đó, giúp sức khỏe được đảm bảo.

Theo Đại Lộ
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa. Người có bệnh lý nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập.
Tài liệu 7 trang kèm lịch tập 6 buổi đầu, trích từ công pháp Khí công Nội kình Nhất chỉ Thiền. Không cần dụng cụ, tập được tại nhà hay trong giờ nghỉ ở văn phòng.
Được. Võ đường đón học viên ở nhiều độ tuổi, phần lớn bắt đầu từ con số 0. Buổi đầu có sàng lọc sức khỏe để HLV điều chỉnh bài tập phù hợp với thể trạng của bạn. Người trên 50 tuổi có thể bắt đầu từ lớp Khí công.
60 phút gồm sàng lọc sức khỏe, chụp tư thế đầu vào và tập thử cùng HLV. Sau buổi tập, HLV tư vấn lộ trình phù hợp. Không có chèo kéo đăng ký.
Quần áo rộng, dễ vận động và một chai nước. Khi nhập môn, võ đường cấp áo tập và Thẻ Tiến Độ cá nhân.
Bạn được bảo lưu miễn phí tối đa 30 ngày/năm khi báo trước 3 ngày. Ốm hoặc chấn thương có xác nhận y tế được bảo lưu không giới hạn. Buổi nghỉ do thời tiết hoặc võ đường được bù buổi hoặc tập trực tuyến.
Học phí tùy cơ sở, lớp và số buổi tập mỗi tuần. Hãy nhắn Zalo hoặc gọi cơ sở gần bạn: võ đường sẽ tư vấn lớp phù hợp và xếp một buổi tập thử miễn phí trước khi bạn quyết định.
Có. Gia đình có con 8–17 tuổi có thể bắt đầu bằng buổi trải nghiệm cha mẹ cùng con.
Có. Võ đường tổ chức workshop chuyên đề, khóa Khí công cho nhóm hoặc lớp định kỳ tại địa điểm của đơn vị. Liên hệ 0913 499 862 để được tư vấn nội dung và lịch phù hợp.
Chọn cơ sở gần bạn rồi nhắn Zalo hoặc gọi trực tiếp. Bạn cũng có thể điền thông tin vào form, tin nhắn sẽ được gửi tới đúng cơ sở bạn chọn.